PHẦN A: MỞ ĐẦU

  1. Lý do chọn đề tài:

Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học ở nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Dạy học tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan điểm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học. Vận dụng hợp lí quan điểm tích hợp trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển các năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn với học sinh so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ. Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo ra những con người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại. Tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc và là quan điểm hiện đại trong giáo dục. Đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay việc hiểu đúng và vận dụng phù hợp quá trình tích hợp có thể đem lại những hiệu quả cụ thể đối với từng phân môn trong nhà trường phổ thông.

    Dạy học tích hợp liên môn là dạy cho học sinh biết tổng hợp kiến thức, kĩ năng ở nhiều môn học để giải quyết các nhiệm vụ học tập và hình thành năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn. Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học, như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông...

   Trong số các môn học ở trường THCS thì môn Vật lí là một trong những môn học thực nghiệm, nó cung cấp cho học sinh rất nhiều các kiến thức cơ bản về thế giới tự nhiên và về môi trường xung quanh. Là giáo viên dạy bộ môn Vật lí, tôi luôn trăn trở về vấn đề làm thế nào vừa dạy học sinh nắm bắt những kiến thức cơ bản của bộ môn, vừa lồng ghép những đơn vị kiến thức về các môn khác cho học sinh nhằm phát huy tính tích cực, khơi dậy niềm đam mê học vật lý của học sinh trong các giờ học có tích hợp liên môn.

   Trên cơ sở tìm tòi những tư liệu về bảo vệ môi trường, thu thập thông tin qua báo đài và internet, đặt biệt là nắm bắt về phương pháp dạy học tích hợp nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó tăng cường năng lực dạy học theo hướng “tích hợp liên môn” là một trong những vấn đề cần ưu tiên. Tôi quyết định viết sáng kiến “Khơi dậy niềm đam mê học Vật lý của học sinh trong các giờ học tích hợp liên môn” để chia sẻ với các đồng nghiệp cùng tham khảo và đóng góp thêm ý kiến để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn, cũng như qua đó càng có thêm nhiều bài giảng tích hợp liên môn hơn nữa giúp học sinh hứng thú hơn với bộ môn Vật lý THCS.

2. Mục đích nghiên cứu:

- Tôi muốn thông qua các tiết học Vật lý có sử dụng kiến thức liên môn với các môn học như: Toán, Ngữ văn, Lịch sử, Sinh học, Mĩ thuật, Tin học…Và qua nhiều tiết học Vật lý có sự kết hợp như vậy sẽ phát huy được tính tích cực, khơi dạy niềm đam mê học Vật lý của học sinh làm cho các em thêm yêu thích bộ môn Vật lý, tạo hứng thú cho học sinh ham học và có kết quả học tập ngày càng cao. Qua đó giúp cho học sinh có thêm nhiều kiến thức về bộ môn cũng như các em biết liên hệ kiến thức bài học với thực tế cuộc sống và hơn nữa là mở rộng được sự liên hệ kiến thức giữa các môn học mà các em đã được học.

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

- Thực hiện đề tài ở khối 7 của trường trung học cơ sở nơi tôi đang công tác giảng dạy.

- Thời gian từ 15/08/2015 đến 15/4/2017.

4. Phương pháp nghiên cứu:

-  Phương pháp đọc tài liệu.

-  Phương pháp dự giờ rút kinh nghiệm.    

-  Phương pháp điều tra thực tiễn.

-  Phương pháp kiểm tra, đối chiếu, so sánh.  

5. Kế hoạch nghiên cứu:

- Việc tích hợp các môn học khác vào dạy học Vật lý không phải bài nào cũng có thể thực hiện được mà đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu cũng như tìm hiểu bài rất kĩ nội dung, phạm vi kiến thức của từng bài để có thể tích hợp kiến thức các môn khác vào tiết dạy một cách hợp lý không gây cho học sinh căng thẳng mà phải tạo được sự chú ý cũng như sự ham mê học hỏi kích thích sự tò mò để từ đó dẫn dắt học sinh đi đến vấn đề mình muốn đưa vào, đó là trong giờ học Vật lý học sinh có thể học thêm nhiều kiến thức các môn học khác có liên quan trong bài và vận dụng nó vào thực tế cuộc sống.

- Đầu tiên tôi sẽ đảm bảo mỗi giờ dạy trên lớp sẽ truyền thụ đầy đủ kiến thức trọng tâm của một giờ dạy Vật lý để các em nắm chắc được kiến thức cũng như biết cách vận dụng nó vào trong thực tiễn cuộc sống.

- Sau đó tôi sẽ tích hợp kiến thức các môn học khác vào các bài giảng của mình những kiến thức về bộ môn Toán, GDCD, Ngữ văn, Lịch sử, Tin học.., để các em có sự hiểu biết sâu rộng hơn và có sự vận dụng các kiến thức đó một cách hài hòa trong cuộc sống. Qua đó các em rèn luyện cũng như củng cố thêm cho mình sự hiểu biết rộng hơn về các kiến thức đã học qua mỗi giờ học Vật lý.

- Cuối cùng tôi sẽ cho các em trả lời các câu hỏi tôi đưa ra về phạm vi kiến thức có tích hợp các kiến thức các môn học khác vào bài học. Qua đó tôi sẽ đánh giá được sự tiếp nhận kiến thức mới có tích hợp liên môn từ học sinh, để từ đó có thể phát triển cũng như triển khai sâu rộng hơn vào các tiết dạy tiếp theo. Hơn nữa, tôi có thể yêu cầu học sinh nêu ra những bài học gì các em học được thông qua các giờ học tích hợp liên môn. Các em đã vận dụng kiến thức đó vào cuộc sống thực tế của mình như thế nào. Từ đó học sinh sẽ hiểu chắc hơn nội dung kiến thức bài học đồng thời khơi dậy được niềm đam mê học Vật lý của các học sinh làm thay đổi suy nghĩ từ trước tới giờ của học sinh là học Vật lý vừa khô khan vừa khó hiểu…Qua đây sẽ tạo động lực cho học sinh học môn Vật lý tốt hơn và có kết quả cao.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                                                                           

PHẦN B. NỘI DUNG

1. Cơ sở lí luận:

Trong dạy học, tích hợp liên môn được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học trong các lĩnh vực học tập khác nhau thành một môn tổng hợp mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học. Như vậy thông qua dạy học tích hợp liên môn thì những kiến thức, kỹ năng học được ở môn này có thể sử dụng như những công cụ để nghiên cứu, học tập các môn học khác. Chẳng hạn sử dụng Toán học như những công cụ đắc lực để giải các bài tập Vật lí, hay Tin học được sử dụng như một công cụ để mô phỏng các thí nghiệm ảo…

* Mục tiêu của dạy học tích hợp liên môn:

- Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa hơn: Hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng.

- Giúp học sinh phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn: Do dự tính được những điều cần thiết cho học sinh.

- Quan tâm đến việc sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể: Giúp học sinh hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống.

- Giúp học sinh xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học.

* Đặc điểm của dạy học tích hợp liên môn:

- Lấy học sinh làm trung tâm.

- Định hướng, phân hóa năng lực học sinh.

- Dạy và học các năng lực thực tiễn.

    Dạy học tích hợp liên môn khơi dậy niềm đam mê học Vật lý của học sinh giúp học sinh trở thành người học tích cực, người công dân có năng lực giải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong thực tiễn cuộc sống.

2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu:

2.1. Thuận lợi:

     Dạy học tích hợp liên môn trong dạy học Vật lí là người học có thể sử dụng kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học khác nhau để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình học tập bộ môn. Quan điểm dạy học này hiện nay cần được áp dụng ở nhiều cấp học. Thực hiện dạy học tích hợp liên môn sẽ mang lại nhiều lợi ích trong việc hình thành và phát triển năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Vật lí là môn khoa học ứng dụng, thực nghiệm; là môn khoa học của các hiện tượng tự nhiên, kiến thức của môn Vật lí gắn liền với các yếu tố tự nhiên, xã hội… Trong dạy học môn Vật lí có thể tích hợp giáo dục với nội dung như: giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, tiết kiệm nguồn năng lượng hiện có ngày càng cạn kiệt, giáo dục kỹ năng sống… đặc biệt là những vấn đề mang tính thời sự như: sự biến đổi khí hậu toàn cầu, sự ô nhiễm môi trường, sự cạn kiệt tài nguyên, hậu quả của nó với việc giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội, vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe…

     Trong chương trình môn Vật lí ở trường THCS, học sinh có thể sử dụng kiến thức ở nhiều môn học “liên quan” để giải quyết một số vấn đề như: tích hợp kiến thức môn Toán để hình thành kỹ năng tính toán, xử lý số liệu; môn Lịch sử giúp học sinh hiểu biết về các nhà Vật lí lỗi lạc, quá trình phát triển công nghệ kĩ thuật; môn Địa lí để hiểu các vấn đề về địa hình, khí hậu giúp học sinh dễ dàng biết được điều kiện thích hợp để thực hiện các dự án mang tính thực tế; môn Văn học để đọc - hiểu văn bản một cách chính xác và viết cho đúng ngữ pháp; môn Tin học để mô hình hóa các quá trình biến đổi Vật lí, các thí nghiệm; môn Giáo dục công dân giúp các em rèn luyện tính trung thực, ý thức bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên…

2.2. Khó khăn:

   * Từ phía giáo viên: Giáo viên hiện nay chủ yếu được đào tạo theo chương trình sư phạm đơn môn, chưa được trang bị về cơ sở lý luận dạy học tích hợp liên môn một cách chính thống, khoa học nên khi thực hiện thì phần lớn là do giáo viên tự mày mò, tự tìm hiểu nên không tránh khỏi việc hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ về mục đích, ý nghĩa cũng như cách thức tổ chức dạy học tích hợp liên môn.

   * Từ phía học sinh: Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy có thể do nhiều lí do khác nhau mà phần lớn các em học vẫn theo xu hướng học thụ động; các em không tích cực, không chủ động cho việc chuẩn bị, tìm hiểu, khai thác kiến thức môn học trong các giờ học; các em vẫn đang theo xu hướng học lệch nên không tích cực hợp tác cho việc chuẩn bị các giờ học tích hợp liên môn hoặc không thể sử dụng kiến thức của các môn “liên quan” như một công cụ để khai thác kiến thức mới ở môn Vật lí.

3. CÁCH THỨC TỔ CHỨC VÀ CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

3.1. Cách thức tổ chức:

Sáng kiến “ Khơi dậy niềm đam mê học Vật lý của học sinh trong các giờ học tích hợp liên môn ” là sáng kiến nhằm góp phần đưa việc giáo dục học sinh có ý thức tốt hơn đối với môi trường sống, bên cạnh đó làm tăng tính hứng thú niềm đam mê học Vật lý nói riêng và các bộ môn học khác và sự liên kết kiến thức các môn học làm cho học sinh có sự hiểu biết sâu rộng về kiến thức mình được tìm hiểu trong các giờ học có tích hợp liên môn.

     Để tích hợp liên môn vào giảng dạy môn Vật lý nói chung, môn Vật lí 7 nói riêng có hiệu quả là một việc không phải đơn giản và dễ dàng. Giáo viên phải giảng dạy đảm bảo đủ chuẩn kiến thức, kỹ năng của bộ môn, còn phải đưa những kiến thức về giáo dục môi trường từ cuộc sống thực tế vào bài giảng nhằm giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh. Bên cạnh đó phải thường xuyên tìm tư tiệu về bảo vệ môi trường như tranh ảnh, số liệu, các thí nghiệm có liên quan để phục vụ cho tiết dạy tích hợp liên môn. Nhưng thời gian chỉ có 45 phút nên giáo viên cần chọn lọc kiến thức liên môn sao cho phù hợp để nâng cao chất lượng giờ học và phải đảm bảo học sinh phải tiếp thu đầy đủ kiến thức của bài đồng thời phải khơi dậy được niềm đam mê học Vật lý từ phía học sinh thì kết quả tiết dạy sẽ tốt hơn. Mỗi giờ học có sự kết hợp nhịp nhàng giữa giáo viên và học sinh sẽ làm cho học sinh thích học Vật lý hơn và ngày càng yêu thích bộ môn Vật lý, kết quả học tập của học sinh sẽ ngày càng được nâng cao lên.

3.2. Biện pháp thực hiện:

3.2.1. Biện pháp:

     Để giảng dạy đạt hiệu quả trước hết giáo viên phải nắm chắc chắn chuẩn kiến thức, kỹ năng của bài , kết hợp tìm tư liệu có liên quan (tranh, ảnh, thí nghiệm mô phỏng, đoạn phim…) đến kiến thức cần tích hợp của bài học qua báo đài, internet…. Xác định được mục tiêu khi lồng ghép các kiến thức đó, những đơn vị kiến thức đó phải dễ hiểu, và sự vật hiện tượng mà giáo viên giới thiệu phải nằm trong tầm hiểu biết của học sinh, tránh trường hợp nó trở thành kiến thức trừu tượng, khó hình dung, rất dễ gây sự nhàm chán cho học sinh. Bằng phương pháp giảng dạy đưa những kiến thức tích hợp đơn giản, cụ thể gắn liền với cuộc sống, với địa phương, kết hợp nhắc nhở của giáo viên sẽ là một trong những yếu tố góp phần cho sự thành công cho tiết dạy có tích hợp liên môn.

     Thường xuyên trao đổi chuyên môn ở trong tổ nhóm và các bộ môn “liên quan” để xác định: mục tiêu dạy học, mục đích và mức độ tích hợp liên môn, phương tiện dạy học, cách thức tổ chức các hoạt động dạy học.

      Xây dựng quy trình và tổ chức các hoạt động dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh, nội dung và mức độ dạy học tích hợp liên môn đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học, được thể hiện cụ thể ở các hoạt động của học sinh, hoạt động của giáo viên và thời gian tổ chức cho từng hoạt động (Thiết kế giáo án).

     Tổ chức dạy học tích hợp liên môn và rút kinh nghiệm.

 

3.2.2. . Một số ví dụ minh họa cho một số bài có tích hợp liên môn.

        Để cụ thể vấn đề trên, tôi đã xây dựng giáo án tích hợp liên môn trong một số bài môn vật lí 7 – THCS.

 

TIẾT 8--- BÀI 8: GƯƠNG CẦU LÕM

- Địa chỉ tích hợp: Gương cầu lõm có tác dụng biến một chùm tia sáng song song thành một chùm tia phản xạ hội tụ vào một điểm và ngược lại, biến đổi một chùm tia tới phân kì thích hợp thành một chùm tia phản xạ song song.

 - Phương pháp tích hợp: Làm thí nghiệm ảo (H8.2 – Sgk Vật lí 7), kết hợp sử dụng hình ảnh về lợi ích của việc dùng gương cầu lõm trong đời sống và trong kĩ thuật.

A. MỤC TIÊU

1. Kiến thức

   Học sinh có năng lực vận dụng những kiến thức các môn Vật lý, Lịch sử, Địa lí, Công nghệ và Giáo dục công dân để giải quyết các vấn đề về tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.

* Môn Vật lý

- Nhận biết được ảnh của một vật tạo bởi gương cầu lõm và nêu được những tính chất của ảnh tạo bởi gương cầu lõm.

- Nêu được ứng dụng chính của gương cầu lõm là có thể biến đổi một chùm tia  tới song song thành chùm tia phản xạ tập trung vào một điểm, hoặc có thể biến đổi chùm tia tới phân kì thành một chùm tia phản xạ song song.

* Môn Địa lí

- Trình bày được đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của từng vùng địa lí.

- Nêu được mối quan hệ giữa nguồn cấp nước và chế độ nước sông.

- Mạng lưới sông ngòi, hướng chảy, chế độ nước ở địa hình Việt Nam.

+ Lớp 6: Bài 23. Sông và hồ.

+ Lớp 7: Chương 1: Các môi trường địa lí

Chương 3: Môi trường hoang mạc.

* Môn Lịch sử

      Học sinh biết được câu chuyện về nhà bác học Archimet với công trình sáng tạo về gương cầu lõm để đánh thắng quân La Mã muốn xâm chiếm thành Syracuse - quê hương ông.

* Môn Công nghệ

Nêu được vai trò của rừng và bảo vệ rừng.

+ Lớp 7: Phần 2: Lâm nghiệp.

* Môn Giáo dục công dân

     Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Biết sử dụng các nguồn năng lượng thay thế để tiết kiệm năng lượng hóa thạch.

+ Lớp 7: Bài 14- Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

 

2.  Kĩ năng

- Biết cách bố trí thí nghiệm để quan sát ảnh ảo của một vật tạo bởi gương cầu lõm và quan sát được tia sáng phản xạ qua gương cầu lõm.

3. Thái độ

- Thái độ nghiêm túc, hợp tác khi làm thí nghiệm và yêu thích môn học.

- Có ý thức bảo vệ môi trường và thiên nhiên. Biết sử dụng các nguồn năng lượng hợp lí, hiệu quả.

B. CHUẨN BỊ

* GV:

- Chuẩn bị đồ dùng học tập cho 4 nhóm: 4 gương cầu lõm, 4 gương phẳng, 4 màn chắn và 8 viên pin bằng nhau về kích thước. Một gương cầu lồi cho giáo viên.

- Thông tin tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường.

- Thông tin tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

- Hình ảnh về nhà bác học Archimet và một số công trình sáng tạo của ông.

- Thông tin, hình ảnh về các ứng dụng của gương cầu lõm trong việc bảo vệ môi

trường và tài nguyên thiên nhiên.

- Trang thiết bị/Đồ dùng dạy học liên quan đến CNTT:  Máy chiếu projecter.

* HS: Kiến thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả góp phần bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên.

 

C. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

I. Tổ chức: Ổn định lớp- Kiểm tra sĩ số.

II. Kiểm tra bài cũ

HS1: Nêu tính chất của ảnh tạo bởi gương cầu lồi?

HS2: So sánh tính chất của ảnh tạo bởi gương cầu lồi với tính chất của ảnh tạo bởi gương phẳng?

III. Bài mới

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

Hoạt động 1: Tổ chức tình huống học tập

- GV chiếu các hình ảnh giới thiệu về nhà Vật lí Archimet và một số công trình sáng tạo của ông.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Năm 212 trước Công nguyên, đoàn thuyền La Mã đang vây thành Syracuse (Hy Lạp), bỗng trên mặt thành xuất hiện vô số tấm gương phản chiếu ánh nắng mặt trời, khiến đoàn thuyền bốc cháy. Nhà bác học Hy Lạp Ác-si-met đã dùng loại gương gì để thiêu cháy kẻ địch.’’

 

- HS nhận xét gương mà Ác-si-met dùng để đốt cháy thuyền giặc là gương gì ?

- GV: Bài học hôm nay sẽ giúp các em trả lời được câu hỏi trên. Chúng ta cùng tìm hiểu.

 

 

 

Hoạt động 2 : Nghiên cứu ảnh của một vật tạo bởi gương cầu lõm.

- Yêu cầu HS nhận dụng cụ và tiến hành thí nghiệm H8.1 theo nhóm và nhận xét ảnh quan sát được.

- Yêu cầu HS đưa ra phương án thí nghiệm để so sánh ảnh của một vật tạo bởi gương cầu lõm với ảnh của vật đó tạo bởi gương phẳng.

- Khi một vật đặt gần sát gương cầu lõm thì ảnh của nó có tính chất gì ?

 

 

 

 

 

 

Hoạt động 3 : Nghiên cứu sự phản xạ ánh sáng trên gương cầu lõm.

- GV hướng dẫn HS quan sát thí nghiệm ảo trên màn hình với trường hợp: Chùm tia tới song song.

- Hướng dẫn HS cách tạo ra chùm sáng song song (điều chỉnh đèn).

- Hướng dẫn HS quan sát thí nghiệm ảo, giới thiệu thiết bị hứng ánh sáng mặt trời để làm nóng vật. Yêu cầu HS giải thích.

 

Tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và bảo vệ môi trường :

+ Mặt Trời là một nguồn năng lượng sạch và nhiều vô tận. Sử dụng năng lượng Mặt Trời là một yêu cầu cấp thiết nhằm giảm thiểu việc sử dụng năng lượng hóa thạch như dầu mỏ, than đá, khí đốt. Như thế tiết kiệm được nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt, bên cạnh đó làm giảm lượng lớn khí nhà kính thải ra môi trường và bảo vệ môi trường.

+ Một cách sử dụng năng lượng Mặt Trời đó là: Sử dụng gương cầu lõm có kích thước lớn tập trung ánh sáng Mặt Trời vào một điểm để đun nấu, nung chảy kim loại, sản xuất điện mặt trời...

 

- GV hướng dẫn HS quan sát thí nghiệm ảo trên màn hình với trường hợp: Chùm tia tới phân kì. (Hướng dẫn HS cách tạo chùm sáng phân kì bằng cách điều chỉnh đèn).

Hoạt động 4: Vận dụng.

- GV chiếu hình ảnh. Yêu cầu HS tìm hiểu đèn pin.

- HS nêu được cấu tạo của đèn:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Hướng dẫn HS bật đèn sáng, xoay nhẹ pha đèn để thay đổi vị trí của bóng đèn sao cho thu được chùm phản xạ song song từ pha đèn chiếu ra.

 

 

 

 

 

 

 

 

GƯƠNG CẦU LÕM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Yêu cầu HS vận dụng kết luận để trả lời câu C6 và C7.

- Yêu cầu giải đáp tình huống đầu bài: Nhà bác học Ác-si-met đã dùng gương cầu lõm để đốt cháy thuyền địch.

- Chiếu một số hình ảnh ứng dụng và ý nghĩa của gương cầu lõm trong cuộc sống.

Tích hợp theo chủ đề

* Sử dụng gương cầu lõm có kích thước lớn tập trung ánh sáng Mặt Trời vào một điểm để đun nấu giúp cho những người dân ở vùng ngập nước, lũ lụt dài ngày hay ngư dân đi biển dài ngày không thể dùng bếp đun củi và điện năng có thể không có để sử dụng.  Bên cạnh đó giúp cho những người lao động tiết kiệm được thời gian đồng thời bảo vệ được sức khỏe từ việc đun củi, than đá gây nhiều bụi khói và khí độc ảnh hưởng tới mắt - phổi.

untitledsTập tin:Spiegelkocher.JPGParabolic-solar-cooker

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Sử dụng gương cầu lõm trong quan sát thiên văn, dùng gương soi cho các diễn viên. Và dùng trong ngành y tế giúp bác sĩ nha khoa quan sát răng được rõ hơn.

 

 

 

 

 

 

kham rang

* Tấm gương cầu lõm có kích thước 3,6m X

3,6m tập trung ánh sáng Mặt Trời vào một điểm có thể nung chảy thép(nhiệt độ tại điểm hội tụ lên tới 13000C) do các sinh viên ở Viện MIT-Mỹ chế tạo năm 2008. Và đây là cơ sở để xây dựng nhà máy sản xuất điện Mặt trời. Bên cạnh là hình ảnh nhà máy điện Mặt trời Germasolar hoạt động vào ban đêm, được xây dựng ở Tây Ban Nha trên diện tích 185 hecta với tổng số gương cầu lõm là 2650 chiếc. Nó có thể hoạt động vào ban đêm là nhờ 2 bể muối đặt ở chân tháp với nhiệt độ bể muối lên đến 9000C.

Description: s

Tấm gương mặt trời có thể làm cháy thép

Description: gemasolarnhamay

Nhà máy điện Germasolar

Ở Việt Nam chúng ta thì sao? Là một nước nhiệt đới với bờ biển dài 3260km, năng lượng bức xạ Mặt trời hằng năm rất lớn, là lợi thế cho Việt Nam chúng ta sử dụng nguồn năng lượng Mặt trời. Vào năm 2000, trung tâm Nghiên cứu thiết bị áp lực và năng lượng mới - Đại học Đà Nẵng đã phối hợp với các tổ chức từ thiện Hà Lan triển khai dự án (30 000 USD) đưa bếp năng lượng mặt trời - bếp tiện lợi vào sử dụng ở các vùng nông thôn của tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Dự án đã phát triển rất tốt và ngày càng được đông đảo nhân dân ủng hộ.

Với thế hệ trẻ các em, hi vọng vào một tương lai không xa, năng lượng Mặt trời sẽ được phát triển rộng rãi hơn nữa và sử dụng một cách hiệu quả với tiềm năng vô tận của nó trên chính quê hương của mình.

 

- HS quan sát màn hình.

- HS quan sát màn hình, nhận xét gương mà Archimet dùng để đốt cháy thuyền giặc.

- Ghi đầu bài.

I. Ảnh tạo bởi gương cầu lõm

- HS  nêu được tính chất của ảnh (C1)?

- HS tự bố trí thí nghiệm để so sánh độ lớn của ảnh của một vật  tạo bởi gương cầu lõm với độ lớn của vật (C2).

Kết luận :

- Ảnh của một vật đặt gần sát gương cầu lõm có tính chất:

+ Là ảnh ảo, không hứng được trên màn chắn.

+ Ảnh lớn hơn vật.

- Khi vật đặt ở xa gương thì ảnh của vật là ảnh thật, ngược chiều với vật.

II. Sự phản xạ ánh sáng trên gương cầu lõm.

- HS quan sát và trả lời câu C3.

Kết luận:

Chiếu một chùm tia tới song song lên một gương cầu lõm, ta thu được một chùm tia phản xạ hội tụ tại một điểm ở trước gương.

 

- HS quan sát thí nghiệm ảo và trả lời câu C4.

C4: Mặt trời ở rất xa nên chùm sáng từ mặt trời đến gương coi là chùm tia tới song song, cho chùm tia phản xạ hội tụ tại một điểm ở trước gương. Ánh sáng mặt trời có nhiệt năng nên để vật ở chỗ ánh sáng hội tụ sẽ làm vật nóng lên.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- HS quan sát và trả lời câu C5.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kết luận:

Một nguồn sáng nhỏ đặt trước gương cầu lõm ở một vị trí thích hợp, có thể cho một chùm tia phản xạ song song.

 

III. Vận dụng

* Tìm hiểu về đèn pin

- Cấu tạo của đèn pin:

+ Pha đèn giống gương cầu lõm.

+ Bóng đèn đặt trước gương có thể di chuyển vị trí.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- C6: Nhờ có gương cầu lõm nên khi xoay pha đèn đến vị trí thích hợp sẽ thu được chùm sáng phản xạ song song, ánh sáng sẽ truyền đi xa mà không bị phân tán.

 

- C7: Muốn thu được chùm sáng hội tụ từ đèn phát ra thì ta phải xoay pha đèn để cho bóng đèn ra xa gương.

 

 

 

- Giải đáp tình huống đầu bài.

 

 

- Quan sát tìm hiểu một số ứng dụng của gương cầu lõm.

IV. Củng cố

1. Vật như thế nào có thể coi là gương cầu lõm? Hãy chọn câu trả lời đúng?

A. Pha đèn pin                                        C. Mặt trong của cái chảo đánh bóng.

B. Mặt trong của cái thìa inốc.               D. Cả 3 vật đều được.

2. Chiếu một chùm tia tới song song vào một gương cầu lõm, chùm tia phản xạ là chùm gì?

A. Song song.                                        C. Phân kì

B. Hội tụ tại một điểm.                          D. Có thể A, hoặc B, hoặc C.

3. Người đàn ông trong hình (bên trái) đang soi gương gì ?

 

                             convexconcaveg

                                                  a)                                b)

*  Kiểm tra đánh giá kết quả học tập

     Kiểm tra học sinh bằng hình thức kiểm tra 15 phút.

- Đề bài: Em hãy nêu vai trò và ý nghĩa của gương cầu lõm trong việc tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường?

Yêu cầu: HS cần trình bày được các nội dung sau:

- Vai trò của gương cầu lõm: Dùng để hứng ánh sáng mặt trời tập trung năng lượng nhiệt vào một điểm để đun nấu, có thể làm nóng chảy kim loại và sản xuất điện mặt trời.

- Ý nghĩa:

+ Giảm thiểu việc tiêu tốn nguồn năng lượng tự nhiên và hóa thạch.

+ Hạn chế việc xây dựng thêm các nhà máy nhiệt điện cũng như thủy điện góp phần tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.

+ Làm giảm các tác động tới sự biến đổi khí hậu hiện nay.

* Kết quả.

Tỉ lệ đạt

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6

Điểm

dưới 5

Dạy học không tích hợp liên môn ở lớp 7B

4/29

14%

10/29

34%

10/29

34%

5/29

18%

Dạy học có tích hợp liên môn ở lớp 7A.

10/28

35,7%

15/28

53,6%

2/28

7%

1/28

3,7%

Tiết 16- Bài 15: Chống ô nhiễm tiếng ồn

Địa chỉ tích hợp:

Sinh học, Địa lí và Giáo dục công dân.

Sinh học 6: Chương IX. Vai trò của thực vật.

Sinh học 8: Bài 51: Cơ quan phân tích thính giác.

GDCD 6: Bài 7. Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên.

GDCD 7: Bài 14. Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

Địa lí 6: Bài 23. Sông và hồ.

Địa lí 8: Bài 33. Đặc điểm sông ngòi Việt Nam.

A. Mục tiêu:

1. Kiến thức:

      • Phân biệt được tiếng ồn và ô nhiễm tiếng ồn, nêu được một số ví dụ về ô nhiễm do tiếng ồn.
      • Nêu được 3 cách để chống ô nhiễm tiếng ồn thường dùng: tác động vào nguồn âm (giảm độ to của tiếng ồn phát ra), ngăn chặn đường truyền âm,  phân tán âm trên đường truyền.
      • Kể tên được một số vật liệu cách âm.

Môn Sinh học 6,8: Nêu được vai trò của thực vật (điều hòa khí hậu, bảo vệ đất và nguồn nước,…)

Môn Địa lí 6, 8: Nêu được cách thức hoạt động của các hồ thủy điện và ảnh hưởng của nó đến môi trường.

2. Kĩ năng:

      • Đề ra được một số biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn trong những trường hợp cụ thể.
      • Thực hiện được các biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn đơn giản nhất: tắt khi không sử dụng, trồng cây xanh, giữ gìn vệ sinh chung, hạn chế sử dụng túi nilon,…
      • Vẽ được sơ đồ tư duy về vấn đề chống ô nhiễm tiếng ồn.
      • Vận dụng các kĩ năng của các môn học liên môn để giải quyết các vấn đề bài học đặt ra:

Môn Giáo dục công dân 6, 7: Rèn luyện đức tính yêu thiên nhiên, biết cách bảo vệ môi trường sống của mình.

3. Thái độ

 - Hứng thú tìm hiểu kiến thức chống ô nhiễm tiếng ồn và áp dụng vào cuộc sống.

Môn Giáo dục công dân: Có thái độ tích cực bảo vệ môi trường.

B. Chuẩn bị và đối tượng, ý nghĩa của bài học

1. Đối tượng dạy học của bài học:

Đặc điểm: Học sinh sống ở thành phố công nghiệp, khu đông dân cư - hàng ngày chịu ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn từ giao thông và các công xưởng, nhà máy phát ra.

2. Ý nghĩa của bài học

2.1. ‎ Ý nghĩa của bài học đối với thực tiễn dạy học

Bài học cung cấp cho học sinh các kiến thức, kĩ năng chống ô nhiễm tiếng ồn và vận dụng những kiến thức, kĩ năng đó vào trong cuộc sống.

Bài học có ‎y′ nghĩa đối với thực tiễn dạy học trong các nhà trường: học phải gắn liền với thực tiễn, học để làm người, học để cùng chung sống.

2.2. Ý nghĩa của bài học đối với thực tiễn đời sống xã hội

Bài học giúp học sinh hình thành thái độ tích cực, có trách nhiệm với chính môi trường sống của mình, bảo vệ môi trường từ những việc nhỏ nhất.

Bài học khẳng định ảnh hưởng to lớn của giáo dục đối với nhận thức, hành động và thái độ của mỗi cá nhân trong xã hội.

3. Thiết bị dạy học:

      • Sử dụng Microsoft Power Point 2003 để soạn thảo bài giảng điện tử.
      • Sử dụng một số video về ô nhiễm tiếng ồn và ô nhiễm môi trường trên website youtube.com
      • Sử dụng CNTT để trình chiếu các hình ảnh và video có sử dụng trong bài học.
      • Sử dụng 1 số đồ dùng dạy học đơn giản: miếng gỗ, miếng kim loại mỏng, miếng xốp, miếng vải dạ, tấm thủy tinh,…để học sinh có thể làm thí nghiệm rõ nhất về tính chất phản xạ âm của các vật liệu.

C. Tiến trình dạy học

I. Ổn định lớp, lớp trưởng báo cáo sĩ số (1’)

II. Kiểm tra bài cũ: không

III. Đặt vấn đề (2’)

Trong cuốn tự truyện “Bất khuất” của nhà cách mạng Nguyễn Đức Thuận, ông đã kể lại cách mà kẻ thù tra tấn các chiến sĩ mà không cần bắn súng, đánh đập, nhưng lại khiến họ đau đớn – đó là cách chúng đẩy người chiến sĩ vào thùng sắt rồi đậy nắp lại. Sau đó chúng dùng búa gõ mạnh bên ngoài thùng. Kiểu tra tấn đó đã làm cho các chiến sĩ ù tai, chóng mặt, ngất xỉu, … Vậy tiếng động như thế nào đã làm đau đớn thể xác người chiến sĩ?

Hoạt động 1. Nhận biết ô nhiễm tiếng ồn (15’)

Phương pháp: hoạt động nhóm.

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

1. GV:  Yêu cầu HS

Xem video và lắng nghe những âm thanh phát ra.

H1: Các em có thích những âm thanh này hay không?

Dẫn dắt: Trong cuộc sống, một âm có thể là hay, dễ chịu đối với người này nhưng lại là phiền hà, khó chịu đối với người khác.

  • Vì vậy, chúng ta có thể hiểu mọi âm thanh không mong muốn đều là tiếng ồn.
  • Tuy nhiên, có phải mọi tiếng ồn đều gây ô nhiễm tiếng ồn hay không.

 

2. GV: y/c HS quan sát 15.1, 2, 3, thảo luận nhóm đôi trong 3’ để trả lời C1.

 

 

 

 

15.1- Sấm, sét

15.2- Máy khoan bê tông liên tục cạnh nơi làm

15.3 – Họp chợ ồn ào gần lớp học

H2. Tiếng ồn trong hình nào là tiếng ồn gây ô nhiễm? Vì sao em biết?

3. GV: Mời 1 số nhóm cử đại diện phát biểu, nhận xét.

H3. Vậy, ô nhiễm tiếng ồn xảy ra khi nào?

Các nhóm hãy hoàn thành phần kết luận trong SGK.

GV: mời 1 số nhóm phát biểu kết luận của nhóm mình, thống nhất và chốt lại kết luận.

4.GV: y/c HS làm việc cá nhân, hoàn thành C2.

5.GV: Mở rộng: Kiến thức liên quan đến nội dung giáo dục bảo vệ môi trường:

? Nếu người tiếp xúc với tiếng ồn to và kéo dài lâu ngày bị bệnh gì?

* Tích hợp kiến thức liên quan đến môn sinh học:

 

 

 

+ Cấu tạo trong của tai người:

 

Tai nguoi chong choi voi tieng on nhu the nao

 

Cấu tạo trong của tai người gồm những bộ phận nào?

Vì sao tai nghe được các tiếng động xung quanh?

 

+ Cơ quan thần kinh người:

- Từ hình vẽ giáo viên giới thiệu sơ lược về cấu tạo cơ quan thần kinh người. Sau đó yêu cầu HS nhìn vào hình vẽ trả lời câu hỏi : cấu tạo của cơ quan thần kinh người gồm những bộ phận nào?

Vậy nếu tai ta nghe tiếng ồn to và kéo dài sẽ gây ảnh hưởng xấu đến thần kinh của con người.

* Tích hợp kiến thức liên quan đến môn Ngữ Văn :

     + Giáo dục cho HS lòng yêu quê hương đất nước từ đó có ý thức bảo vệ môi trường nói chung và việc chống ô nhiễm tiếng ồn nói riêng.

    + GV: Trong truyện “Buất Khuất” của nhà văn Nguyễn Đức Thuận đã kể lại hình thức tra tấn của kẻ thù đối với người chiến sĩ mà không cần súng, đánh đập nhưng lại làm người chiến sĩ rất đau đớn. Đó là cách để người chiến sĩ vào thùng sắt, đóng nắp lại, chỉ có một lỗ nhỏ đủ để không khí lọt vào, sau đó dùng búa gõ bên ngoài thùng.

Kiểu tra tấn đó đã làm cho người chiến sĩ rất đau đớn, đau đến mức ù tai, chóng mặt, ngất xỉu. Xong người chiến sĩ vấn không khuất phục. Một kiểu tra tấn thật đáng sợ, tiếng ồn của chiếc thùng sắt đã làm đau đớn về thể xác của người chiến sĩ.

- Từ những hậu quả của tiếng ồn gây ra như vậy có những biện pháp nào để chống ô nhiễm môi trường?

 

 

 

HS: - Phát biểu y′ kiến cá nhân về âm thanh mình nghe được.

 

- Nhận thức vấn đề đặt ra, tiếp thu, ghi bài.

 

 

 

 

 

 

 

HS: thảo luận nhóm và trả lời câu hỏi.

 

 

 

 

 

 

 

15.1- Sấm, sét: to, chỉ xảy ra một thời gian ngắn, không gây ảnh hưởng liên tục đến sức khỏe và sinh hoạt của con người→ không phải ô nhiễm tiếng ồn.

 

 

15.2- Máy khoan bê tông liên tục cạnh nơi làm việc: tiếng ồn to, kéo dài, ảnh hưởng tới sức khỏe và sinh hoạt của con người → ô nhiễm tiếng ồn.

 

 

15.3 – Họp chợ ồn ào gần lớp học: tiếng ồn to, kéo dài, ảnh hưởng tới sức khỏe và sinh hoạt của con người → ô nhiễm tiếng ồn.

 

 

 

 

HS: hoàn thành phần kết luận.

Ô nhiễm tiếng ồn: xảy ra khi tiếng ồn to, kéo dài, ảnh hưởng xấu đến sức khỏesinh hoạt của con người.

 

HS: nhận nhiệm vụ, thảo luận kết quả và trả lời câu hỏi.

 

Đáp án: C2:  b,c, d.

 

HS: Hiện tượng ô nhiễm tiếng ồn có ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt của con người.

- Về sinh lí: nó gây mệt mỏi toàn thân, đau đầu, tim đập nhanh, chóng mặt, ăn không ngon. Ngoài ra tiếng ồn quá lớn còn suy giảm thị lực.

- Về tâm lí: nó gây khó chịu, lo lắng, bực bội, dễ cáu gắt, sợ hãi, ám ảnh, mất tập trung, dễ nhầm lẫn, thiếu chính xác.

 

Cấu tạo trong của tai người gồm: Trái tai, màng nhĩ, tiểu cốt, ống hình bán nguyệt, ốc tai, thần kinh thính giác, ống điều khiển áp suất không khí.

 

- Vì âm được truyền bởi không khí đến tai làm cho màng nhĩ dao động. Dao động này được truyền qua các bộ phận bên trong tai, tạo ra tín hiệu truyền lên não giúp ta cảm nhận được âm thanh. Màng nhĩ dao động với biên độ càng lớn, ta nghe thấy âm càng to.

 

- Âm truyền đến tai có độ to quá lớn có thể làm thủng màng nhĩ. Vì vậy trong nhiều trường hợp cần phải chú ý bảo vệ tai.

=>  + Thần kinh trung ương: não   (gồm trụ não, tiểu não, não trung gian, đại não) và tủy sống.

       + Thần kinh ngoại biên: dây thần kinh (dây thần kinh não, dây thần kinh tủy) và hạch thần kinh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS: lắng nghe.

 

   

2. Hoạt động 2. Tìm hiểu biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn (17’)

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

*Tích hợp kiến thức liên quan đến môn vật lí :

+ Thế nào là vật phản xạ âm tốt? Thế nào là vật phản xạ âm kém?

+ Âm truyền được qua những môi trường nào và không truyền được qua những môi trường nào?

- Yêu cầu học sinh đọc thông tin sách giáo khoa.

- Giải thích cho học sinh hiểu thông tin.

- Phân nhóm phát phiếu học tập yêu cầu học sinh làm C3?

- Yêu cầu các nhóm báo cáo kết quả.

- Gọi học sinh nhận xét.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Yêu cầu học sinh làm C4?

 

 

* Tích hợp kiến thức liên quan đến nội dung giáo dục bảo vệ môi trường: Phòng tránh ô nhiễm tiếng ồn:

- Trồng cây: Trồng cây xung quanh trường học, bệnh viện, nơi làm việc, trên đường phố và đường cao tốc là cách rất hiệu quả để giàm thiểu tiếng ồn.

- Lắp đặt thiết bị giảm âm: Lắp đặt một số thiết bị giảm âm trong phòng làm việc như: thảm, rèm, thiết bị cách âm, để giảm thiểu tiếng ồn từ bên ngoài truyền vào.

- Đề ra nguyên tắc: Lặp bảng thông báo quy định về việc gây ồn. Cùng nhau xây dựng ý thức giữ trật tự cho mọi người.

- Các phương tiện giao thông cũ, lạc hậu gây ra những tiếng ồn rất lớn. Vì vậy, cần lắp đặt ống xả và các thiết bị chống ồn trên xe. Kiểm tra, đình chỉ hoạt động của các phương tiện giao thông đã cũ hoặc lạc hậu.

- Tránh xa các nguồn gây tiếng ồn: Không đứng gần các máy móc, thiết bị gây ồn lớn như máy bay phản lực, các động cơ, máy khoan cắt, rèn kim loại…. Khi cần tiếp xúc với các thiết bị đó cần sử dụng các thiết bị bào vệ (mũ chống ồn) và tuân thủ các quy tắc an toàn. Xây dựng các trường học, bệnh viện, khu dân cư xa nguồn gây ra ô nhiễm tiếng ồn.

 

 

+ Vật phản xạ âm tốt : là các vật cứng có bề mặt nhẵn.

 + Vật phản xạ âm kém:là các vật mềm, có bề mặt gồ ghề.   

 => Âm truyền qua được những môi trường rắn, lỏng, khí và không truyền qua được môi trường chân không.

HS: trả lời C3:

Cấm bóp còi

Trồng cây xanh.

Hà Nội muốn trồng 1 triệu cây xanh, nhìn cách người Singapore đưa rừng vào thành phố

Xây tường chắn.

Description: http://i.imgur.com/E7JV0l8.jpg

C4:

    + Tường gạch, bêtông, gỗ…

    + Kính, lá cây…

HS: lắng nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS: lắng nghe.

 

 

3.  Hoạt động 3:  Vận dụng, củng cố và giao nhiệm vụ về nhà  (10’)

Phương pháp: làm việc cá nhân.

Hoạt động của GV

Hoạt động của HS

GV: Yêu cầu HS.

  • Làm việc cá nhân, hoàn thành C5, C6.
  • Trả lời câu hỏi nêu ở đầu bài.

 

* Liên hệ thực tế: Giáo dục HS ý thức bảo vệ môi trường sống, đặc biệt là ô nhiễm tiếng ồn.

Em hãy nêu một số biện pháp cụ thể để chống ô nhiễm tiếng ồn tại ngôi trường em đang học?

Củng cố: Yêu cầu HS nhắc lại một số kiến thức trọng tâm.

Mở rộng :

1. Trong các biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn ở trên, biện pháp trồng nhiều cây xanh không những có tác dụng phân tán âm trên đường truyền, mà còn có vai trò to lớn khác.

Chương trình sinh học 6 chúng ta đã tìm hiểu vai trò của cây xanh, theo các con, đó là những vai trò, những tác dụng nào?

 

2. Tương tự hiện tượng ô nhiễm tiếng ồn, chúng ta đang phải đối mặt với hiện tượng ô nhiễm môi trường, ô nhiễm ánh sáng, đặc biệt là các nước đang phát triển.

Hiện tượng ô nhiễm môi trường, ô nhiễm ánh sáng cũng xảy ra trong thời gian dài, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sinh hoạt của con người. Vì vậy, mỗi cá nhân cần phải có những việc làm cụ thể để giữ gìn môi trường sống của chính chúng ta và thế hệ con cháu mai sau.

BTVN: 15.2→ 15.5 SBT

 

HS: làm việc cá nhân và hoàn thành nhiệm vụ.

C5:

  + Hình 15.2: Yêu cầu trong giờ làm việc không được khoan, người thợ phải có dụng cụ bảo vệ tai.

  + Hình 15.3: Xây tường gạch chắn giữa lớp học và chợ.

C6:

  * Trường hợp gây ô nhiễm tiếng ồn nơi em sống.

 + Nhà ở cạnh nhà máy xay xát lúa gạo.

 + Nhà ở cạnh quán Karaokê.

 * Biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn:

 + Trồng nhiều cây xanh quanh nhà.

 + Đóng kín cửa, treo rèm nhung.

 

Câu hỏi đầu bài : khi bị nhúng ngập đầu trong thùng nước kín, ngoài bị sặc nước, ngộp thở, các chiến sĩ còn bị ù tai, vỡ tai đau đớn, do khi gõ mạnh bên ngoài thùng, âm truyền trong nước gặp thành  của thùng nước - bị phản xạ nhiều lần, độ to của âm tăng lên và ảnh hưởng đến tai.

- Học sinh cần thực hiện các nếp sống văn minh tại trường học: bước nhẹ lên cầu thang, không nói chuyện trong lớp học, không nô đùa, mất trật tự trong trường học….

 

  • Tác dụng của việc trồng nhiều cây xanh :

+ Lọc không khí, làm môi trường sống trong lành hơn, Giảm nhiệt cho nhà ở (điều hòa khí hậu).

+ bảo vệ đất, nguồn nước.

 

HS: xem video về ô nhiễm môi trường, đưa ra một số biện pháp để bảo vệ môi trường:

  • Hạn chế xả rác ra môi trường, nếu phải thải rác thì phải phân loại rác.
  • Tiết kiệm điện, nước,..bằng cách tắt khi không sử dụng,…
  • Sử dụng đồ tái chế: sử dụng các chai lọ nhựa để trồng thêm cây xanh,…
  • Sử dụng năng lượng sạch (năng lượng mặt trời, năng lượng gió...)

(sử dụng năng lượng thủy điện có ảnh hưởng xấu đến môi trường – địa lí 6, 8)

 

* Kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Học sinh có thể vận dụng kiến thức để làm các bài tập trắc nghiệm và tự luận liên quan.

Học sinh vận dụng kiến thức để giải quyết những tình huống cụ thể thường gặp trong cuộc sống.

* Các sản phẩm của học sinh

- Sơ đồ tư duy về chống ô nhiễm tiếng ồn; sơ đồ tư duy về các cách bảo vệ môi trường.

- Mỗi học sinh trồng thêm cây xanh trong nhà mình, mỗi lớp trồng thêm một số chậu cây nhỏ trong lớp học.

- Sưu tầm một số tranh ảnh về sản phẩm tái chế (từ chai nhựa, vỏ lon,…)

  

 

4. Kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm:

4.1. Kết quả đạt được:

Trong quá trình tiến hành dạy thực nghiệm tôi nhận thấy rằng ‎nhận thức ‎‎của học sinh về việc vận dụng kiến thức nhiều môn học để giải quyết các tình huống thực tiễn dần được cải thiện. Các em biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng... thuộc nhiều môn học khác nhau để giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống. Các em biết tổ chức các phong trào tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường như: tắt đèn điện, quạt điện trước khi ra khỏi lớp học; giữ vệ sinh phòng học, phong trào xanh - sạch - đẹp ở trường học, thường xuyên dọn dẹp vệ sinh xung quanh trường học, không xả rác nơi công cộng,….Ngoài ra các em còn là các tuyên truyền viên tích cực cho gia đình và mọi người xung quanh biết cần phải làm gì để tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường sống. Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của bản thân và gia đình.

       Nhận thức của các em về môn Vật lí không còn đơn giản là môn thực nghiệm nữa, mà còn là môn học giúp các em gần gũi hơn với môi trường sống, biết làm gì để bảo vệ môi trường, bảo vệ trường học, bảo vệ gia đình…, song song đó các em còn hăng hái xây dựng bài, nhất là những bài có tích hợp liên môn, các em rất hăng hái thảo luận, đưa ra ý kiến, các nhóm tích cực đưa ra ý kiến khiến cho các tiết học thường đạt hiệu quả cao.

4.2. Bài học kinh nghiệm:

- Thiết kế bài giảng, cách tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức Vật lý:

 + Giáo viên cần xác định rõ nội dung kiến thức của bài, trong quá trình soạn giảng cần tạo được các tình huống có vấn đề, giữa kiến thức mà học sinh đã biết và kiến thức bài mới học sinh chưa biết. Từ đó, tạo ra động lực để giúp các em tìm hiểu nội dung kiến thức của bài.

+ Sau mỗi tiết học giáo viên củng cố kiến thức trọng tâm của bài học. Có thể củng cố bằng nhiều hình thức khác nhau để gây hứng thú học tập cho học sinh như: đưa ra các bài tập nêu vấn đề và hệ thống câu hỏi gợi mở, có thể là cho học sinh trả lời câu hỏi trắc nghiệm, hoặc củng cố bằng các trò chơi liên hệ với kiến thức thực tế sao cho các em có thể vận dụng được kiến thức các môn đã học để giải thích được một cách chính xác nhất.

+ Bên cạnh đó, giáo viên phải biết vận dụng các kiến thức trong bài dạy vào các hoạt động thực tế có liên quan và giải thích cụ thể cho học sinh thấy được tác dụng của việc bảo vệ môi trường đối  với sức khỏe của con người. Từ đó, khơi dậy được sự đam mê và hứng thú học tập cho học sinh với môn Vật Lý nhất là những giờ học có sự tích hợp liên môn kiến thức nhiều môn học để học sinh nắm chắc kiến thức hơn nữa.

+ Đồng thời, giáo viên phải phối kết hợp nhuần nhuyễn có hiệu quả các phương pháp dạy học Vật lý: sử dụng kênh hình, đàm thoại, giải thích, các thí nghiệm biểu diễn, tranh ảnh  nêu vấn đề,.. để tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách có hiệu quả.

-  Điều hành tổ chức hoạt động của học sinh trên lớp:

+ Giáo viên cần đưa ra các yêu cầu của bài học, nội dung kiến thức trọng tâm thông qua việc trình bày nêu vấn đề ở đầu bài hay mỗi đầu mục.

+ Tạo không khí học tập tích cực, khơi dậy niềm đam mê học Vật lý của học sinh trong các giờ học có tích hợp liên môn thì giáo viên phải tạo ra mỗi giờ học là một niềm vui, niềm say mê trong học tập của học sinh. Giáo viên luôn tạo ra những thách thức vừa sức, tổ chức những hoạt động tự lực của học sinh trong từng tiết học.

- Đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh sau mỗi giờ dạy, kịp thời động viên, nhắc nhở các em có ý thức tự học. Khích lệ những học sinh có tiến bộ. Để từ đó các em ngày càng đam mê và yêu thích môn học hơn nữa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN C. KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận:

Dạy học nhằm góp phần quan trọng để hình thành nhân cách con người lao động mới, sáng tạo, thích nghi với xã hội ngày càng phát triển. Do vậy phương pháp dạy học tích hợp phải thực hiện được các chức năng nhận thức, phát triển và giáo dục, tức là lựa chọn phương pháp tích hợp sao cho học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và vận dụng tri thức vào thực tiễn.

     Đặc biệt Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm đòi hỏi phát huy cao độ tính tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức. Chính vì vậy để lựa chọn phương pháp dạy học tích hợp trong tiết học phù hợp, người giáo viên cần hiểu rộng các kiến thức ở nhiều môn để nâng cao hiệu qủa giảng dạy bộ môn của mình.

Sau đây là phiếu điều tra sự đam mê, hứng thú học Vật lý của học sinh lớp được học các giờ học có tích hợp liên môn với học sinh lớp không được học.

 

Sự đam mê, hứng thú học

Thích học

Không thích

Dạy học không tích hợp liên môn ở lớp 7B

18/29

62%

11/29

38%

Dạy học có tích hợp liên môn ở lớp 7C

25/28

89%

3/28

11%

 

Thông qua tình hình thực tế, khi tôi dạy các tiết học có tích hợp liên môn vào trong từng bài học tôi thấy rằng, tuy thời gian để tôi lồng kiến thức các môn học khác và kiến thức bảo vệ môi trường vào trong mỗi đơn vị kiến thức có liên quan là rất ít nhưng học sinh đã có sự đam mê, hứng thú hơn với bộ môn Vật lý,

các kiến thức các môn học khác của học sinh được bổ sung cho nhau ngày một chắc hơn, kết quả học tập của học sinh cũng được nâng lên rõ ràng và các em cũng có vận dụng những kiến thức đó vào trong cuộc sống hàng ngày, đôi khi các em còn đưa ra nhiều ý kiến rất hay trong vấn đề bảo vệ môi trường. Ngoài ra, các em còn là những tuyên truyền viên rất tích cực về bảo vệ môi trường tại gia đình và địa phương, giúp mọi người có ý thức giữ gìn môi trường mình đang sống vì sức khỏe của mỗi người nói chung và của từng người nói riêng. Mỗi chúng ta, mỗi người chung tay góp sức vì một cuộc sống trong lành và ổn định hơn.

      Nhưng do thời gian ngắn nên tôi chưa nghiên cứu sâu mà chỉ có 2 bài học có nội dung tích hợp liên môn, và do tôi là một giáo viên trẻ năm kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế cũng như các thiết bị dạy học còn thiếu và hư hỏng rất nhiều. Trong quá trình làm đề tài sẽ không tránh khỏi sự thiếu sót rất mong được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp và các bạn đọc để sáng kiến kinh nghiệm về “Khơi dậy niềm đam mê học Vật lý của học sinh trong giờ học tích hợp liên môn” của tôi đạt kết quả cao hơn trong việc dạy học và sẽ giúp nhiều học sinh đam mê học bộ môn Vật lý hơn nữa với kết quả ngày càng cao.

2. Khuyến nghị:

Cần phải tổ chức các cuộc thi cho học sinh về đề tài bảo vệ môi trường nhân dịp những ngày lễ lớn trong năm hoặc vào các ngày gắn với môi trường.

     Nhà trường cần phải tạo điều kiện cho giáo viên bộ môn tổ chức những buổi sinh hoạt ngoại khóa về giáo dục tích hợp liên môn trong đó có bảo vệ môi trường cho các em, thông qua những buổi ngoại khóa thực tế này giáo viên có thể chỉ cho các em những việc làm cụ thể nhằm bảo vệ môi trường các em đang sống và sinh hoạt.

     Cần trang bị thêm các thiết bị dạy học cần thiết cho môn học như: máy ảnh kĩ thuật số hoặc camera để giáo viên có công cụ tiện cho việc thu thập thông tin về những hình ảnh ô nhiễm môi trường cụ thể ở địa phương hoặc các khu vực khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN D. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Sách giáo viên + sách giáo khoa + sách thiết kế bài giảng Vật lí 7.

2. Sách nâng cao vật lí 7 + sách bồi dưỡng vật lí 7.

3. Vật lí tuổi trẻ ra định kì theo tháng.

4. Đọc thêm tài liệu trên internet, báo đài….

5. Phương pháp giảng dạy vật lí.                

6. Địa lí 6&7,8, Công nghệ 7, Giáo dục công dân 6,7, Sinh học 6,8.

7. Giáo dục BVMT trong môn Vật lí THCS - NXB Giáo dục.

8. Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị.

9. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Bộ Chính trị.

 

 

Hà nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.