1. ĐẶT VẤN ĐỀ
  1. Lí do chọn đề tài

Giáo dục nước ta ở thế kỉ 21 trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế về giáo dục trở thành xu thế tất yếu. Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới, tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục. Xu thế đổi mới giáo dục của thế kỷ 21 ở các nước trên thế giới, trong khu vực cũng như ở nước ta đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất và năng lực làm thay đổi yêu cầu về vai trò và chức năng của nhà giáo.

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng coi trọng vai trò của giáo dục, quan tâm nhiều hơn đến giáo dục và đòi hỏi giáo dục phải đổi mới và phát triển. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 đã xác định rõ một trong ba khâu đột phá là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn năng lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Sự phát triển của đất nước sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức đối với sự nghiệp phát triển giáo dục.

Để đào tạo những con người có đủ phẩm chất và năng lực như vậy cần có đội ngũ cán bộ giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt. Đội ngũ giáo viên trong một trường học là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường. Do đó, để đạt được mục tiêu giáo dục, hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học thì người cán bộ quản lý phải rất coi trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Ban giám hiệu phải coi việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là công việc thường xuyên, liên tục vì yêu cầu của xã hội đối với giáo dục ngày càng cao và đội ngũ giáo viên hiện nay ở bất cứ trường nào cũng không đồng đều về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và còn nhiều yếu tố chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục hiện nay.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên THCS nói riêng, đã có nhiều tác giả đề cập đến trong các công trình nghiên cứu. Đặc biệt có nhiều bài viết trên các Tạp chí giáo dục, Phát triển giáo dục, Thông tin Khoa học giáo dục...Nhiều bài viết rất hay, nhưng còn nặng về lý thuyết hoặc mang tầm vĩ mô lớn, khó áp dụng vào thực tiễn ở một số cơ sở giáo dục cụ thể. Nhiều nơi đã làm, tuy nhiên giải pháp chưa mang tính đồng bộ, chưa mang tính sáng tạo. Vì vậy vấn đề đặt ra là cần vận dụng linh hoạt, đồng bộ các giải pháp và đặc biệt là phải sát với điều kiện thực tế tại đơn vị mình.

Một câu hỏi mà tôi luôn suy nghĩ đề tìm câu trả lời là: “Làm thế nào để nhanh chóng nâng cao chất lượng cả về chuyên môn và nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên của trường?”. Trong những năm làm công tác quản lý phụ trách chuyên môn, tôi đã áp dụng nhiều biện pháp để nâng cao trình độ cho giáo viên, kết hợp tốt giữa việc tạo điều kiện để các đồng chí giáo viên tự học, tự bồi dưỡng, tham gia các chương trình bồi dưỡng của Sở GD&ĐT cũng như của Phòng GD&ĐT với việc tổ chức các hoạt động bồi dưỡng tại chỗ thông qua các phong trào thi đua và các hoạt động kiểm tra trong nhà trường, tôi thấy có hiệu quả rõ rệt. Năm học 2016 -2017 tôi đã áp dụng thành công sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường trung học cơ sở”, năm học 2019 – 2020 tôi tiếp tục sáng kiến này, mở rộng thêm các biện pháp với mong muốn được trao đổi với các bạn đồng nghiệp để có thêm kinh nghiệm xây dựng đội ngũ giáo viên, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục ngày càng phát triển.

II. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường trung học cơ sở nơi tôi công tác, qua đó đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường trung học cơ sở.

     III. Đối tượng nghiên cứu:

Những biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường THCS.

     IV. Phạm vi nghiên cứu

Trường trung học cơ sở nơi tôi công tác

     V. Kế hoạch nghiên cứu:

- Thời gian: năm học 2019-2020

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về vai trò của giáo viên trong nhà trường, vai trò của Ban giám hiệu trong việc nâng cao chất lượng giáo viên và biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở trường trung học cơ sở. 

- Nghiên cứu thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở nơi tôi công tác.

- Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở trường THCS nơi tôi công tác.

 

 

 

  1. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

  1. Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 đã định hướng “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược”.

Mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 ban hành kèm theo quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ là: “nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”.

II. Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”

  1. Mục tiêu chung: “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục bảo đảm chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông; góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT”
  2. Mục tiêu cụ thể:

a) Về đào tạo

Đào tạo GVCBQL cơ sở giáo dục theo chương trình và SGK mới với các trình độ cao đẳng, đại học đáp ứng yêu cầu về trình độ của GVCBQL cơ sở giáo dục theo các ngành học ở cấp tiểu học, THCS, THPT.

Đào tạo trình độ sau đại học phù hợp với quy hoạch đội ngũ nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục cấp tiểu học, THCS, THPT ở từng địa phương.

b) Về bồi dưỡng

Bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, chuẩn nghề nghiệp và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông.

Bồi dưỡng nâng cao năng lực ngoại ngữ, tin học cho nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nói chung và bồi dưỡng tiếng dân tộc cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông công tác ở vùng dân tộc nói riêng.

    3. Các giải pháp cụ thể

Chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ theo hướng chuẩn hóa đáp ứng yêu cầu theo chuẩn chức danh nghề nghiệp GV và CBQL giáo dục các cấp; chú trọng bồi dưỡng phẩm chất và nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, trình độ tin học, ngoại ngữ cho đội ngũ; tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác bồi dưỡng thường xuyên thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn, nâng cao năng lực tự học của giáo viên qua mạng internet và tăng cường trao đổi, giao lưu, hợp tác quốc tế trong bồi dưỡng giáo viên.

          Tổ chức có hiệu quả các Hội thi giáo viên dạy giỏi, giáo viên chủ nhiệm giỏi, giáo viên làm công tác tổng phụ trách Đội giỏi.Tăng cường phối hợp với các cơ sở đào tạo GV trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV, CBQL, nhân viên.

Triển khai thực hiện kịp thời việc bổ nhiệm vào hạng và xếp lương theo hạng chức danh nghề nghiệp GV các cấp, có kế hoạch và tạo điều kiện cho GV hoàn thiện các tiêu chuẩn theo yêu cầu của hạng chức danh nghề nghiệp để đảm bảo việc thi, xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên các cấp theo quy định.

 III. Đề án “Nâng cao chất lượng GD&ĐT huyện giai đoạn 2016 – 2020”.

   1. Mục tiêu chung: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tập trung đầu tư nâng cao chất lượng đại trà, chú trọng chất lượng mũi nhọn và tăng cường công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên ngành giáo dục huyện. Phấn đấu đến năm 2021, ngành giáo dục huyện dẫn đầu khối huyện”.

   2. Chỉ tiêu về chất lượng đội ngũ:

Tỉ lệ đảng viên toàn ngành phấn đấu đạt 70%. 100% CBQL có trình độ quản lý, chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn. 85% GV có trình độ chuyên môn trên chuẩn. Số GVDG cấp Quốc gia, cấp Thành phố, cấp huyện đạt giải cao tăng hàng năm.

  3. Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL, GV, nhân viên

Tích cực giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức; đánh giá, rà soát đội ngũ CBQL, GV hàng năm để xây dựng kế hoạch tổ chức các chuyên đề, bồi dưỡng CBQL, GV gắn với nhu cầu đào tạo nhân lực, yêu cầu đổi mới chương trình, SGK. Tích cực tổ chức hội thi GVDG các cấp; thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn cho đội ngũ GV tham gia bồi dưỡng HSG, HSNK; có kế hoạch nâng cao năng lực quản lí, trình độ tin học, ngoại ngữ, phương pháp giảng dạy cho đội ngũ CBQL, GV, nhân viên đáp ứng tiêu chí thi đua của trường chất lượng cao, trường học điện tử.

Chương II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

I/ Đặc điểm của cơ sở nghiên cứu:

Trường tôi là một trường nhỏ, nằm ở khu vực còn nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế. Trong những năm gần đây, mặc dù có nhiều khó khăn về đội ngũ nhưng với sự nỗ lực cố gắng của tập thể cán bộ giáo viên, nhân viên, nhà trường đã phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học. Chất lượng giáo dục nhà trường ngày càng được nâng cao. Năm học 2018 – 2019, trường đã đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện.

1. Thuận lợi:

- Phong trào thi đua dạy và học của trường được sự quan tâm của chi ủy, Ban giám hiệu nhà trường.

- Đội ngũ giáo viên phần lớn là giáo viên trẻ, nhiệt tình, tâm huyết với nghề, nhanh chóng áp dụng được các phương pháp dạy học mới, hiện đại.

2. Khó khăn:

          - Trường có số học sinh ít, cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy còn thiếu nhất là các trang thiết bị hiện đại.

          - Trường thường xuyên có biến động về đội ngũ giáo viên.

- Một bộ phận giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới.

          - Nhiều giáo viên trẻ thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy.

          - Một số phụ huynh học sinh còn chưa quan tâm nhiều đến hoạt động dạy và học của nhà trường.

II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

          Trong những năm qua, trường đã thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Nhà trường có đủ đội ngũ giáo viên phục vụ công tác giảng dạy. Phần lớn giáo viên có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao; đại bộ phận giáo viên có đạo đức tốt, tận tụy với nghề, có tinh thần trách nhiệm và ý thức phấn đấu. Tuy nhiên công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên còn có những bất cập:

Về cơ cấu, trường có 18 giáo viên nhưng mất cân đối giữa các môn học: trường có 8 lớp với 305 học sinh nhưng chỉ có 2 giáo viên Toán, 2 giáo viên Văn trong khi mỗi môn Lý, Công nghệ, Sử, Địa, Hóa, Sinh, Tin học…. mỗi môn chỉ có 1 giáo viên vì vậy việc sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn gặp rất nhiều khó khăn do đó cần Ban giám hiệu tạo điều kiện để giáo viên có cơ hội được giao lưu học tập chuyên môn thông qua các câu lạc bộ giáo viên, sinh hoạt chuyên đề…

Về chất lượng, do trường có nhiều khó khăn nên chỉ là “điểm đỗ” cho các giáo viên mới vào nghề là chủ yếu, những giáo viên có năng lực chuyên môn luôn tìm cách chuyển trường mỗi khi có điều kiện. Nhiều giáo viên trẻ rất nhiệt tình, yêu nghề, hăng hái phấn đấu nhưng kinh nghiệm ít, phương pháp giảng dạy và giáo dục cũng còn nhiều hạn chế; một số ít giáo viên vẫn dạy theo lối cũ, nặng về truyền đạt lý thuyết ít chú ý đến năng lực tự học, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành của học sinh. Vì vậy, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

Về công tác đào tạo, bồi dưỡng, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng giáo viên. Hàng năm Sở GD&ĐT đều có chương trình bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên cho giáo viên. Phòng GD&ĐT cũng tổ chức chuyên đề ở các bộ môn, tạo cơ hội để giáo viên được trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ nhau về chuyên môn. Các chương trình bồi dưỡng này rất có hiệu quả và cần thiết. Tuy vậy, lượng thời gian không nhiều và không phải tất cả giáo viên đều được tham dự. Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên hiệu quả chưa cao.

Từ thực trạng đội ngũ dẫn đến chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường còn thấp, số học sinh đạt giải trong các kỳ thi cấp huyện và Thành phố chưa đạt mặt bằng chung của huyện.

III. Nguyên nhân của thực trạng

1. Nguyên nhân khách quan:

- Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; điều kiện kinh tế của nhân dân trên địa bàn trường thấp.

- Những yếu tố tiêu cực thuộc mặt trái của cơ chế thị trường đã có tác động không nhỏ đến tâm tư, nếp nghĩ, lối sống của một bộ phận giáo viên.

2. Nguyên nhân chủ quan:

- Một số giáo viên mang tư tưởng một mình một chuyên môn nên không ai giúp được mình, mình cũng không giúp được ai nên không có ý thức phấn đấu, thiếu tự tin khi thực hiện nhiệm vụ.

- Một số giáo viên nhất là giáo viên trung tuổi ngại phải thay đổi; thiếu kiến thức về Tin học, Tiếng Anh, chưa tích cực tham gia bồi dưỡng chuyên môn.

- Hầu hết giáo viên còn trẻ, thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy cũng như trong các hoạt động giáo dục.

 

 

Chương III: CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH

I. Tiến hành điều tra – khảo sát

  1. Về phía giáo viên
  • Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên:

Năm học

Trình độ chuyên môn

Tin học

cơ bản

Tiếng Anh

ĐH

Đang học ĐH

A2

B1

B2

2018 - 2019

4

14

0

18

16

0

2

  • Số lượng giáo viên đạt giải trong các kì thi cấp huyện:

Năm học

Số giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp huyện

2018 - 2019

3 giải

  1. Về phía học sinh:
  • Chất lượng đại trà: - Kết quả xếp loại học lực, hạnh kiểm

Năm học

Học lực (%)

Hạnh kiểm (%)

Giỏi

Khá

TB

Yếu, kém

Tốt

Khá

TB

Yếu

2018 - 2019

30,5

42,6

21,3

5,6

90,6

9

0,4

0

     - Chất lượng học sinh lớp 9 thi vào 10

Năm học

Môn Văn

Môn Toán

Môn Anh

Môn Sử

Tỉ lệ đỗ

vào THPT

2018 - 2019

72,92%

91,67%

31,25%

93,75%

77,36%

  •  Chất lượng mũi nhọn:

Năm học

HSG lớp 9

HSNK lớp 6, 7, 8

2018 - 2019

8 em – 15,09%

34 em – 15,81%

II. Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên:

1. Nâng cao nhận thức về yêu cầu và trách nhiệm học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Do yêu cầu đổi mới về chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông,  phương pháp giáo dục, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác giáo dục toàn diện, người giáo viên cần kiến thức chuyên môn tốt tốt, nghiệp vụ tốt, đạo đức nghề nghiệp tốt, am hiểu xã hội do đó việc thường xuyên phải học tập nâng cao trình độ là một tất yếu khách quan.

Một số giáo viên có tư tưởng tự an phận không cố gắng phấn đấu. Muốn trở thành giáo viên dạy giỏi, điều trước tiên giáo viên cần có trình độ chuyên môn chắc không chỉ đạt chuẩn mà còn trên chuẩn, có kiến thức về Tiếng Anh, Tin học vì thế phải ham học hỏi, thường xuyên bồi đắp kiến thức toàn diện.

Là trường có quy mô nhỏ, đời sống của nhân dân còn khó khăn, thu nhập của giáo viên thấp do đó nhiều giáo viên luôn tìm cách chuyển về những trường có điều kiện hơn khi đã “đủ lông đủ cánh”. Vì vậy, nhà trường liên tục có biến động về GV, lực lượng GV hợp đồng nhiều. Hầu hết các đồng chí hợp đồng đều là giáo viên trẻ, thiếu kinh nghiệm giảng dạy. Số giáo viên dưới 32 tuổi chiếm tỉ lệ 70%, trình độ chuyên môn của một số đồng chí mới đạt chuẩn cần cố gắng đạt trên chuẩn để có thể đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác giáo dục. 

Trước yêu cầu của đổi mới giáo dục, Ban giám hiệu luôn xác định việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên là yêu cầu, là trách nhiệm. Chính vì thế, Ban giám hiệu đã có kế hoạch chỉ đạo trong nhiệm vụ năm học của nhà trường là: “Tập trung phát triển đội ngũ GV, tăng cường các hình thức bồi dưỡng GV; rà soát, đánh giá năng lực giáo viên; việc bồi dưỡng GV phải gắn với việc bố trí, sử dụng có hiệu quả, nhà trường đề ra chỉ tiêu phấn đấu đồng thời đã tạo điều kiện về thời gian, sắp xếp thời khóa biểu hợp lý, động viên các đồng chí giáo viên đi học, giúp các đồng chí hoàn thành tốt cả hai nhiệm vụ dạy và học. Trong năm học, nhà trường đã tạo điều kiện cho 4 đồng chí giáo viên tham gia học đại học, 1 đồng chí học văn bằng 2 và 100% giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ.

2. Nâng cao chất lượng đội ngũ thông qua hoạt động chuyên đề

Phòng GD&ĐT thường xuyên tổ chức các chuyên đề cấp huyện, các giờ dạy  báo cáo hội thi giáo viên dạy giỏi cấp Thành phố. Mỗi chuyên đề là sản phẩm trí tuệ của một nhóm giáo viên với sự giúp đỡ của các đồng chí chuyên viên PGD nên đó là bài học thực tế hết sức bổ ích cho giáo viên. Nhà trường đã phân công giáo viên thực hiện chuyên đề cấp huyện được giao đồng thời luôn hết sức tạo điều kiện để giáo viên được trực tiếp đi dự giờ. Đối với các môn có từ 2 - 3 đồng chí, nhà trường có thể thu xếp cho 2 đồng chí đi dự giờ để nghe các đồng chí giáo viên trong toàn huyện rút kinh nghiệm, từ đó sẽ rút ra bài học sâu sắc hơn cho mình để vận dụng hiệu quả hơn.Trong năm học, nhà trường đã cử giáo viên tham gia được 30 chuyên đề cấp huyện (đạt 100%), tổ chức phổ biến, vận dụng chuyên đề vào thực tế giảng dạy.

Trên cương vị quản lý chuyên môn, xác định tập trung vào công tác chuyên đề đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ giáo viên. Ngay từ đầu năm học tôi đã chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn xây dựng kế hoạch và phân công thực hiện chuyên đề, tăng cường tổ chức các chuyên đề cấp trường. Hoạt động chuyên đề thực sự đi vào chất lượng và hiệu quả. Trong năm học đã thực hiện chuyên đề Mỹ thuật cấp huyện và 24 chuyên đề cấp trường ở tất cả các môn học, tất cả giáo viên đều được phân công thực hiện chuyên đề.

Việc xây dựng chuyên đề được thực hiện đúng quy trình, được sự tham gia góp ý của tất cả các thành viên trong tổ, nhóm chuyên môn. Người thực hiện chuyên đề chỉ là người đại diện cho tổ nhóm thực hiện sản phẩm của tập thể vì vậy mọi người đều phải có trách nhiệm xây dựng.

Các chuyên đề đã thực hiện rất phong phú, tập trung vào những vấn đề khó, mới và những vấn đề mang tính thực tiễn như: chuyên đề giáo dục tình yêu quê hương đất nước cho học sinh qua giờ vẽ tranh ở môn Mỹ thuật, chuyên đề tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Sinh, chuyên đề dạy học theo hướng nghiên cứu bài học trong môn Địa lý, chuyên đề vẻ đẹp và thân phận của người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương ở môn Văn, chuyên đề rèn kỹ năng sống cho học sinh qua giờ thực hành ngoại khóa trong môn Công nghệ, hay sử dụng “kỹ thuật góc” trong môn Hóa..….chứ không chỉ tập trung phát huy tính tích cực của học sinh là chủ yếu như trước đây.

Sau khi thực hiện chuyên đề, việc góp ý rút kinh nghiệm, vận dụng chuyên đề vào thực tế giảng dạy được chỉ đạo thực hiện nghiêm túc.

Có thể nói, hoạt động chuyên đề tạo điều kiện cho giáo viên được suy nghĩ, tìm tòi, đóng góp ý kiến, được trải nghiệm những vấn đề mới, những vấn đề khó. Giáo viên từ việc ngại phải thực hiện đã tích cực thực hiện tự giác, có trách nhiệm. Đặc biệt là các giáo viên trẻ thì thực hiện chuyên đề là cách nhanh nhất, tốt nhất để giáo viên trưởng thành.

Bên cạnh đó, 100% các chuyên đề giáo viên đều ứng dụng CNTT nên đã rèn thêm cho giáo viên kỹ năng sử dụng. Các giáo án điện tử ngày càng phong phú về tài liệu, kiểu bài. Từ những kỹ thuật nhỏ: như phối màu không phù hợp, cỡ chữ quá nhỏ, những nội dung đưa lên máy có khi còn mang tính trình diễn, nặng về hình thức…đến nay các giáo viên đã có khả năng phối màu, chọn cỡ chữ hợp lý, rõ ràng; các hiệu ứng vừa phải về tốc độ, hình thức, hiệu quả mà không lòe loẹt. Những đoạn vi deo, hình ảnh động, những hình ảnh thực ngoài đời đã mang lại sự hấp dẫn, lôi cuốn học sinh. Nhờ CNTT mà việc thiết kế giáo án giảng dạy trở nên đơn giản hơn. Nhiều thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động giúp học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu. Nhờ việc tổ chức, tạo điều kiện và cố gắng động viên của BGH giúp các đồng chí giáo viên đồng loạt cố gắng học tập, nâng cao trình độ tin học, kỹ năng sử dụng Internet tìm tài liệu cho những bài giảng đầy hấp dẫn của mình. Tất cả giáo án các tiết chuyên đề cấp trường, cấp huyện; các tiết dạy báo cáo của huyện và Thành phố đều được sắp xếp khoa học trong kho tư liệu lưu tại thư viện theo môn, lớp để giáo viên có thể tham khảo bất cứ lúc nào, tiện lợi mà hiệu quả.

3. Tăng cường, tạo điều kiện tối đa và động viên để giáo viên tham gia dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm

Công tác dự giờ là việc làm thường xuyên đặc biệt cần thiết giúp cho BGH nắm chắc tình hình giảng dạy của giáo viên về trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và tinh thần trách nhiệm trong công việc để kịp thời động viên các đồng chí giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt và nghiêm túc trong công việc, đồng thời nhắc nhở, tư vấn và giúp đỡ các đồng chí còn yếu về phương pháp, về quản lý, tổ chức lớp và xử lí các tình huống sư phạm trên lớp.

Trước tiên, bản thân tôi là hiệu phó phụ trách chuyên môn, tôi phải thường xuyên đi dự các chuyên đề ở tất cả các chuyên môn để có sự hiểu biết tương đối về phương pháp đặc trưng từng môn. Thực tế các môn học, ngoài các phương pháp đặc trưng bộ môn vẫn có những phương pháp chung, nguyên tắc để phát huy tính tích cực, năng lực tự học của học sinh, để tổ chức cho học sinh làm việc có hiệu quả. Tôi đã phải cố gắng để những người mang tư tưởng không muốn chia sẻ với người khác chuyên môn hiểu được điều đó bằng cách khuyến khích, động viên và sắp xếp để các giáo viên cùng tổ có thể đi dự giờ của nhau. Những câu nói kiểu như “Em biết gì môn Toán mà dự? Em không biết gì môn Địa mà góp ý..” hay dự giờ xong chỉ góp ý hình thức “Tôi đồng ý, tôi không có ý kiến gì, tôi thấy thế tốt rồi..” đã không còn nữa. Sau nhiều tiết dự giờ các đồng chí giáo viên đã thấy rằng mỗi tiết dự giờ là bài học cho bản thân họ. Họ học được cách trình bày khoa học của môn Toán; cách nói dí dỏm, sâu sắc, tế nhị của môn Văn; ý thức luôn gắn bài học với thực tế của môn Sinh, Lý, GDCD; những trò chơi sôi nổi, thú vị của môn Anh...

Khi dự giờ, có giáo viên ngại khi phát hiện và chỉ ra “lỗi” của đồng nghiệp. Nhưng đôi khi “lỗi” mà các đồng chí giáo viên không cùng chuyên môn nêu ra dưới dạng thắc mắc, sau khi phân tích, lý giải được vấn đề bản thân giáo viên dạy cũng đã rút ra được kinh nghiệm để dạy cho học sinh hiểu hơn. Đôi khi học sinh trên lớp không dám hỏi trực tiếp cô giáo những vấn đề mà các em không rõ nhưng những “học trò – giáo viên dự giờ” sẵn sàng tranh luận và giải đáp tất cả các vấn đề thắc mắc. Từ đó, các đồng chí giáo viên có nhiều ý kiến để tham khảo và tự điểu chỉnh phương pháp cho phù hợp hơn.

Không phải chỉ dự giờ thi đua, thi giáo viên dạy giỏi hay chuyên đề mà các đồng chí giáo viên còn được tham gia cùng Ban giám hiệu dự giờ kiểm tra báo trước và đột xuất. Việc đó đem lại nhiều tác dụng. Thứ nhất là tạo thêm nhiều cơ hội cho giáo viên đi dự giờ vì nhiều khi không đổi được tiết để đi dự giờ. Thứ hai là kết quả kiểm tra đảm bảo được đánh giá công bằng, khách quan. Thứ ba là ngoài việc dự giờ các tiết thi đua có sự giúp đỡ của Tổ, nhóm, những giờ có sự chuẩn bị công phu của giáo viên thì giáo viên còn được dự những giờ bình thường trên lớp. Sau những tiết dạy như thế các đồng chí giáo viên sẽ nắm chắc các tiêu chí đánh giá một tiết dạy và cố gắng để đạt những tiêu chí đó. Sự đánh giá kết quả kiểm tra chuyên môn được công khai, công bằng dựa trên dự đánh giá của tập thể khiến các giáo viên yên tâm, các giáo viên có chuyên môn nghiệp vụ chưa tốt vì lòng tự trọng thúc đẩy mà phải cố gắng.

4. Nâng cao trình độ chuyên môn thông qua phong trào thi giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi.

Hàng năm, Phòng GD&ĐT và Sở GD đều tổ chức thi giáo viên giỏi từ 3 môn trở lên. Đây là cơ hội để các trường, các thầy cô giáo khẳng định vị trí, năng lực, kết quả của quá trình phấn đấu thi đua giảng dạy của mình. Trước đây ở trường tôi việc thi GV dạy giỏi là của cá nhân vì quan niệm đó là thành tích của cá nhân, có giáo viên có sự ganh đua ngầm và vì thế không muốn thật lòng chia sẻ kinh nghiệm nên góp ý hời hợt. Tôi đã quyết tâm thay đổi suy nghĩ rằng: hội thi giáo viên dạy giỏi các cấp không những thực sự là cơ hội quý giá để mọi thành viên trong trường được trao đổi, học hỏi, giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm mà còn giúp cho mọi người trong tập thể gắn bó sẻ chia cả khó khăn vất vả từ đó tăng thêm tình đoàn kết, yêu thương trong tập thể.

Ở vòng thi cấp trường là vòng thi mỗi cá nhân phát huy hết khả năng sáng tạo của cá nhân mình để tạo ra những bài giảng hấp dẫn hiệu quả … đến vòng thi cấp huyện và cấp thành phố. Khi được chọn thi giáo viên giỏi cấp huyện, ngoài việc bản thân giáo viên đó sẽ phát huy toàn bộ khả năng, trí sáng tạo của mình; các đồng chí giáo viên trong các tổ nhóm sẽ mang hết kinh nghiệm của mình để cùng đồng hành giúp đỡ. Ngoài ra Ban giám hiệu còn giúp đỡ các đồng chí học hỏi, tham khảo ý kiến của bạn bè và các đồng chí giáo viên giỏi của các trường khác để xây dựng giáo án. Nhà trường coi đó là việc quan trọng mà mọi giáo viên phải chung tay góp sức giúp đỡ sưu tầm tài liệu, thiết kế giáo án, dự giờ rút kinh nghiệm…Việc làm đó đã tạo bầu không khí thi đua vui tươi, hào hứng trong toàn trường, mỗi đồng chí giáo viên đều có được những bài học hết sức bổ ích trong quá trình giúp đỡ đồng chí mình, hơn nữa đã động viên, khích lệ, tạo sự tin cho đồng nghiệp tham gia hội thi. Nhà trường khẳng định mục tiêu mỗi kỳ thi là một cơ hội cho cả tập thể cùng tiến. 

Trong công tác nâng cao chất lượng đội ngũ GV, điều không thể không chú trọng đến là nâng cao số lượng và chất lượng của đội ngũ GV giỏi, GV đủ trình độ bồi dưỡng học sinh giỏi, đảm bảo cho công tác chất lượng mũi nhọn của trường. Bồi dưỡng học sinh giỏi cả một quá trình dài đòi hỏi sự nhiệt tình, tâm huyết của GV. Vì vậy một số giáo viên chưa mạnh dạn tham gia bồi dưỡng; một số giáo viên “ngại” không muốn làm vì nó mất nhiều thời gian và công sức. Khi thực hiện bồi dưỡng, để có lượng kiến thức phong phú, để giải đáp được những thắc mắc của học sinh giỏi thì giáo viên phải học hỏi đồng nghiệp, tự tìm hiểu, đọc thêm các sách tham khảo, tìm hiểu thêm Internet do đó vừa nâng cao được trình độ chuyên môn vừa nâng cao kiến thức về tin học.

Bên cạnh các đồng chí giáo viên có kinh nghiệm, có bề dày thành tích thì việc rất cần là bồi dưỡng lớp giáo viên kế cận. Đối với các giáo viên trẻ, không những chưa vững về phương pháp mà còn thiếu kinh nghiệm giảng dạy. Nhận trách nhiệm bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ nặng nề và khó đối với họ. Vì vậy tôi phải thường xuyên làm việc cùng giáo viên; trực tiếp cùng các đồng chí giáo viên học hỏi kinh nghiệm từ các đồng chí giáo viên giỏi trong huyện, mượn tài liệu cho giáo viên, thu thập những khúc mắc của giáo viên để hỏi các chuyên viên và các giáo viên có kinh nghiệm ở các trường bạn. Những thành tích của học sinh chính là nguồn động lực, cổ vũ động viên các giáo viên; cũng là  tạo không khí thi đua giữa giáo viên các môn học, những giáo viên chưa có học sinh giỏi cũng thấy mình phải cố gắng hơn.

5. Đổi mới sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn

Đổi mới sinh hoạt, tổ nhóm chuyên môn cũng là một giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên. Việc sinh hoạt nhóm chuyên môn như trước đây mang nặng tính chất hành chính, chất lượng sinh hoạt chưa cao. Tôi đã tìm cách thay đổi nếp sinh hoạt chuyên môn theo cách truyền thống cũ, đó là các văn bản hướng dẫn chuyên môn, ghi chép sổ chuyên môn, sinh hoạt chuyên môn được gửi tới tận tay giáo viên đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất và tiết kiệm thời gian cho những công việc hành chính; đẩy mạnh sinh hoạt nhóm chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.

Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học không đặt nặng việc quan tâm giờ dạy của giáo viên như trước đây mà khuyến khích người dự giờ hướng đến đối tượng học sinh để làm sao giúp đỡ các em có một bài học hoàn chỉnh, chất lượng, gây được hứng thú và niềm say mê học tập… Trong tiết học này, giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học, phải xem học sinh học như thế nào, lớp dạy đang gặp khó khăn gì? Nội dung và phương pháp giảng dạy có phù hợp và gây hứng thú cho học sinh không? Kết quả cuối cùng có được cải thiện hay không? Nếu cần điều chỉnh thì điều chỉnh gì và như thế nào cho phù hợp nhất?... Sau giờ dạy, giáo viên dạy minh họa chia sẻ về mục tiêu bài học, những điều đã làm được và chưa làm được trong giờ học; người dự đưa ra những ý kiến nhận xét, chia sẻ về giờ dạy.

Năm học 2019-2020 trường tôi tăng cường nội dung sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, thay vì ngồi một chỗ trao đổi nội dung bài mà giáo viên sau khi có định hướng bài dạy thực sự tham gia dự giờ, tham gia giúp đỡ các nhóm học sinh trên lớp, hoạt động này áp dụng nhiều với các nhóm có nhiều từ 2,3,4 giáo viên có cùng chuyên môn trở lên.

6. Lấy ý kiến của học sinh về hoạt động giảng dạy của giáo viên, cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên

Gần đây, khi nói về giáo dục, các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên nhắc tới các cụm từ “Nhà trường thân thiện, học sinh tích cực”, “Dân chủ trong học đường”, “trường học hạnh phúc”… tôi đã tiến hành cụ thể việc lấy ý kiến học sinh về các thầy cô giáo. Khi làm việc này, có giáo viên phản đối vì cho rằng học sinh chưa đủ trình độ đánh giá giáo viên và như thế thì học sinh không tôn trọng giáo viên… Nhưng cảm nhận của phần lớn học sinh không phải là hoàn toàn cảm tính, không có căn cứ và không chính xác, cái quan trọng là cách đặt vấn đề của Ban giám hiệu như thế nào để có được sự trao đổi chân thành, nghiêm túc của học sinh. Trước tiên tôi phải khiến học sinh hiểu: khi giảng bài, phương pháp của các thầy cô không giống nhau, các phương pháp đó có thể phù hợp với bạn này nhưng chưa phù hợp với bạn kia. Nhiều thầy cô rất say mê chuyên môn luôn muốn mở rộng, nâng cao kiến thức cho các em điều đó phù hợp với học sinh giỏi nhưng học sinh yếu sẽ thấy mệt mỏi; có trường hợp thầy cô dễ tính một chút các em có thể vì không tập trung nên không hiểu bài. Vì vậy, để có những tiết học thú vị như các em mong muốn, các em hãy cho biết ý kiến của mình với thầy cô giáo.

Tuy nhiên, ý kiến học sinh hay chủ quan, thường dựa trên cảm tính nên dễ dẫn đến sai lệch.Vì vậy, tôi đã đưa ra cho các em 15 câu hỏi trắc nghiệm để tìm hiểu một số thông tin về các thầy cô, xem những kiến thức mà giáo viên đã giảng dạy, những phương pháp mà giáo viên đã tiến hành đã được học sinh tiếp thu như thế nào, hiệu quả cao hay thấp…theo ba lĩnh vực: kiến thức, phương pháp giảng dạy, nề nếp và ứng xử. Các em chỉ cần đánh dấu (x) vào các ô có hoặc không, sau đó nêu nhận xét về thầy cô mà em thích nhất vì sao? Thầy cô môn nào dạy em khó hiểu nhất? Vì sao từ đó đưa ra đề nghị với BGH nhà trường. Phiếu thăm dò ý kiến được phát cho học sinh vào giữa học kỳ I và cuối năm. Đây cũng là một kênh thông tin giúp Ban giám hiệu hiểu mặt mạnh mặt yếu của từng giáo viên, từ đó mỗi giáo viên tự nhìn nhận lại quá trình dạy học của mình để điều chỉnh phương pháp giảng dạy cũng như dung lượng kiến thức cho phù hợp. Về phía học sinh, các em sẽ thấy phấn khởi, tự tin khi được trình bày ý kiến, mong muốn của mình.

Chương IV: HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

  1. Về phía giáo viên
  • Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên:

Năm học

Trình độ chuyên môn

Tin học

cơ bản

Tiếng Anh

ĐH

Đang học ĐH

A2

B1

B2

2018 - 2019

4

14

0

18

16

0

2

2019 - 2020

4

14

4

18

16

0

2

  • Số lượng giáo viên đạt giải trong các kì thi cấp huyện:

Năm học

Số giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp huyện

2018 - 2019

3 giải

2019 - 2020

3 giải (2 GV lần đầu tham gia thi đã đạt giải)

  1. Về phía học sinh:
  • Chất lượng đại trà: - Kết quả xếp loại học lực, hạnh kiểm

Năm học

Học lực (%)

Hạnh kiểm (%)

Giỏi

Khá

TB

Yếu, kém

Tốt

Khá

TB

Yếu

2018 - 2019

30,5

42,6

21,3

5,6

90,6

9

0,4

0

2019 - 2020

30,9

42,9

22

4,2

94,4

5,3

0,3

0

- Chất lượng học sinh lớp 9 thi vào 10

Năm học

Môn Văn

Môn Toán

Môn Anh

Môn Sử

Tỉ lệ đỗ

vào THPT

2018 - 2019

72,92%

91,67%

31,25%

93,75%

77,36%

2019 - 2020

85%

85%

47%

91%

75%

  •  Chất lượng mũi nhọn:

Năm học

HSG lớp 9

HSNK lớp 6, 7, 8

2018 - 2019

8 em – 15,09%

34 em – 15,81%

2019 - 2020

9 em – 15,79%

Chưa có kết quả

  1.  KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ
  1. Kết luận

Đội ngũ giáo viên là lực lượng quyết định chất lượng, hiệu quả của hoạt động giảng dạy và giáo dục. Chất lượng đội ngũ giáo viên là điều kiện sống còn của nhà trường. Những biện pháp mà tôi đã thực hiện được xác định trên cơ sở thống nhất với các yêu cầu chung của giáo dục, quản lý và xuất phát từ điều kiện thực tế ở các trường THCS đồng thời cũng đã được kiểm định tính thực tế của các giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các trường THCS.

Trường tôi là một trường nhỏ, do đó tôi chỉ tìm những biện pháp sao cho ít tốn kém nhưng vẫn hiệu quả. Phương châm của tôi là kết hợp nhịp nhàng giữa tạo điều kiện để giáo viên tự học, tự bồi dưỡng với việc chú trọng bồi dưỡng tại chỗ, dựa vào lực lượng giáo viên nòng cốt có kinh nghiệm để giúp đỡ các giáo viên trẻ, còn ít kinh nghiệm. Biện pháp này vừa tiết kiệm thời gian, công sức, vừa tạo khối đoàn kết, thân ái giúp nhau cùng tiến bộ. Với các trường lớn có thể thêm một số biện pháp khác nhưng vẫn có thể áp dụng các biện pháp mà tôi đã nêu.

    II.   Khuyến nghị

          Qua việc thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm sau:

          Một là, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là việc làm khó và lâu dài nên không thể nóng vội mà phải có kế hoạch làm dần từng bước và phải thật sự tâm huyết với công việc này.

Hai là, giáo viên là nhân tố có vai trò quyết định chất lượng của giáo dục, vì vậy phải không ngừng học tập, rèn luyện, phải nhận thức được việc nâng cao chất lượng là công việc của chính mình, từ đó tự giác thực hiện thì hiệu quả sẽ cao hơn.

Ba là, để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cần có sự cố gắng không chỉ riêng của ngành giáo dục mà còn có sự chung tay, chung sức một cách tích cực và lâu dài của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và toàn thể nhân dân.

          Để làm tốt công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tôi xin kiến nghị Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT cần tăng cường các lớp bồi dưỡng thường xuyên cho GV theo chuyên đề trong đó cần đặc biệt quan tâm đến những vấn đề mới và khó.

Tuy đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu nhưng chắc chắn đề tài không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Tôi rất mong được Hội đồng khoa học các cấp, các bạn đồng nghiệp góp ý để tôi có thể bổ sung, cải tiến các biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường.

Tôi xin chân thành cảm ơn!