MỤC LỤC

 

Tiêu đề

Trang

PHẦN A. MỞ ĐẦU:

 

1. Lí do chọn đề tài.

1

2. Mục đích nghiên cứu.

2

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.

2

4. Phương pháp nghiên cứu.

2

5. Kế hoạch nghiên cứu

3

PHẦN B. NỘI DUNG:

 

1. Cơ sở lý luận:

4

2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu:  

5

      2.1 Đặc điểm cơ sở nghiên cứu:

5

             2.1.1. Thuận lợi:

5

             2.1.2. Khó khăn:

5

      2.2. Thực trạng:

6

3. Cách thức tổ chức và các biện pháp thực hiện:

7

     3.1. Cách thức tổ chức:

7

     3. 2. Biện pháp thực hiện:

7

     3.2.1. Biện pháp:

7

     3.2.2. Một số ví dụ minh họa cho một số bài có tích hợp kiến thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường.

8

4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm

22

PHẦN C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:

25

1.Kết luận:

25

2. Kiến nghị:

26

PHẦN D. TÀI LIỆU THAM KHẢO       

27

 

 

 

 

 

PHẦN A: MỞ ĐẦU

  1. Lý do chọn đề tài:

Môi trường sống hiện nay của chúng ta đã và đang ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng. Bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia trên Trái Đất. Để giải quyết được vấn đề này thì công việc giáo dục bảo vệ môi trường là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, có tính bền vững và sâu rộng nhất trong số các biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước.

      Trong số các môn học ở trường trung học cơ sở thì môn Hóa học là một trong những môn học thực nghiệm, nó cung cấp cho học sinh rất nhiều các kiến thức cơ bản về thế giới tự nhiên nói chung và về môi trường xung quanh nói riêng. Vì thế qua môn học này, mỗi khi hướng dẫn học sinh một đơn vị kiến thức cơ bản có liên quan đến môi trường thì thầy, cô giáo có thể giáo dục cho học sinh ý thức  bảo vệ môi trường vào từng đơn vị kiến thức này hoặc từng bài giảng của mình một cách thích hợp giúp học sinh vừa có thêm kiến thức mới vừa có thể vận dụng kiến thức đó để áp dụng vào cuộc sống.

Để việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh vào trong bài giảng có liên quan đến môi trường đạt được hiệu quả cao nhất thì theo tôi, ngay từ lớp 8  các em mới được làm quen với môn Hóa học, chúng ta cần phải làm sao để không những gây được sự hứng thú học tập cho các em về môn học này, mà còn có thể tích hợp kiến thức về môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường, để rồi từ đó xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho các em học sinh.Và đến lớp 9 giáo viên tiếp tục giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào những nội dung thích hợp của từng bài học cụ thể.Từ đó học sinh ngày càng có thêm nhiều kiến thức cũng như sự hiểu biết sâu rộng hơn về thế giới tự nhiên xung quanh các em. Qua các bài học có tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, các em có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường mình đang sống, mang kiến thức mình được học trên lớp tuyên truyền cho gia đình, bạn bè và mọi người cùng thực hiện, có trách nhiệm cao trong vấn đề bảo vệ, giữ gìn làm môi trường ngày càng trong lành hơn. Như vậy các em ngày càng biết yêu thiên nhiên cũng như sống có trách nhiệm hơn với quê hương, với bản thân và với xã hội. Từ đó rèn luyện cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường ngay từ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường, để sau này các em dù đi đâu các em cũng được trang bị đầy đủ kiến thức, trách nhiệm của một công dân biết chung tay góp sức bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống cũng như ngoài cộng đồng xã hội.

Là một giáo viên tham gia giảng dạy bộ môn Hóa học nhiều năm ở trường THCS, tôi luôn trăn trở về vấn đề rèn cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường qua các tiết học mà vẫn phải đảm bảo vừa dạy học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản của bộ môn và vừa tích hợp các đơn vị kiến thức về môi trường cho học sinh. Để không những qua một giờ học các em có được kiến thức về môn Hóa học mà còn có thể có thêm nhiều kiến thức thực tế về môi trường hơn nữa trang bị cho các em ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường xung quanh.

Trên cơ sở tìm tòi các tài liệu về bảo vệ môi trường, thu thập thông tin qua báo đài, Internet,….Đặc biệt là nắm bắt về phương pháp dạy học tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ  môi trường cho học sinh thông qua các giờ dạy Hóa học, bên cạnh đó, dựa vào việc tìm ra những đơn vị kiến thức trong chương trình Hóa học 9 có liên quan đến việc giáo dục bảo vệ môi trường, cộng với quá trình dạy thử nghiệm thu được kết quả khá tốt. Tôi quyết định viết hoàn chỉnh hơn sáng kiến về “Tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Hóa học 9” để chia sẽ với các đồng nghiệp cùng tham khảo và đóng góp thêm ý kiến để đề tài càng hoàn thiện hơn, cũng như qua đó càng có thêm nhiều bài giảng có tích hợp ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh.

2. Mục đích nghiên cứu:

      Tôi muốn thông qua các tiết dạy Hóa học của mình giúp cho học sinh có thêm nhiều kiến thức về bộ môn cũng như các em biết liên hệ kiến thức bài học với thực tế cuộc sống. Trên cơ sở đó rèn luyện cũng như giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường, biết giữ gìn, có trách nhiệm và tuyên truyền cho mọi người xung quanh cùng chung tay góp sức bảo vệ môi trường ngày càng xanh – sạch – đẹp hơn, để mỗi người trong chúng ta có được một bầu không khí trong lành, một cuộc sống không bệnh tật làm cho xã hội, đất nước đẹp hơn trong mắt bạn bè thế giới.

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

- Thực hiện đề tài ở khối 9 của trường trung học cơ sở nơi tôi đang công tác giảng dạy.

- Thời gian từ 15/08/2014 đến 15/4/2015.

4. Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thu thập số liệu

+ Thu thập số liệu bằng cách tham khảo tài liệu.

+ Thu thập số liệu từ những thực nghiệm.

-  Phương pháp quan sát.   

+ Quan sát, nghiên cứu cách học sinh tìm hiểu tài liệu SGK.

+ Quan sát để ghi nhận thái độ: Qua các động tác và những biểu đạt bằng hành động ( ánh mắt, nụ cười… ) và ngôn ngữ của học sinh.

-  Phương pháp suy luận.

       Tổ chức các buổi thảo luận theo nhóm về một vấn đề hay một nội dung kiến thức nào đó để giúp học sinh trao đổi phát hiện ra kiến thức mới.

-  Phương pháp trực quan. 

       Sử dụng các hình ảnh ( tĩnh hoặc động)…để học sinh trực tiếp tư duy, trên cơ sở đó phát hiện, khai thác và lĩnh hội kiến thức mới.

-  Phương pháp vấn đáp.   

     Đặt hệ thống câu hỏi phù hợp với từng nội dung kiến thức của từng bài học cụ thể để học sinh vận dụng kiến thức có được trả lời các câu hỏi của giáo viên.

5. Kế hoạch nghiên cứu:

- Việc tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường vào giờ dạy Hóa học không phải bài nào cũng có thể thực hiện được mà đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu cũng  như  tìm hiểu bài rất kĩ nội dung, phạm vi kiến thức của từng bài để có thể tích hợp kiến thức một cách hợp lý không gây cho học sinh căng thẳng mà phải tạo được sự chú ý cũng như sự ham mê học hỏi kích thích sự tò mò để từ đó dẫn dắt học sinh đi đến vấn đề mình muốn đưa vào, đó là giáo dục được ý thức bảo vệ môi trường cho các em.

- Trước tiên phải đảm bảo mỗi giờ dạy trên lớp sẽ truyền thụ đầy đủ kiến thức trọng tâm của một giờ dạy Hóa học để các em nắm chắc được kiến thức cũng như biết cách vận dụng nó vào trong thực tiễn cuộc sống.

- Sau đó tích hợp vào các bài giảng của mình những kiến thức về môi trường để các em có sự hiểu biết sâu rộng hơn về môi trường xung quanh cũng như có ý thức bảo vệ môi trường xung quanh. Qua đó các em rèn luyện cũng như củng cố thêm cho mình sự hiểu biết rộng hơn về môi trường qua mỗi giờ học Hóa học.

- Cuối cùng cho các em trả lời các câu hỏi tôi đưa ra về phạm vi kiến thức có tích hợp bảo vệ môi trường có liên quan đến bài học. Qua đó tôi sẽ đánh giá được sự tiếp nhận kiến thức mới có tích hợp ý thức bảo vệ môi trường từ học sinh, để từ đó có thể phát triển cũng như  triển khai sâu rộng hơn vào các tiết dạy tiếp theo. Hơn nữa, tôi có thể yêu cầu học sinh nêu ra những bài học gì các em học được thông qua các giờ học tích hợp ý thức bảo vệ môi trường. Các em đã vận dụng kiến thức đó vào cuộc sống thực tế để bảo vệ môi trường sống của mình như thế nào.

 

                                                                                                           

PHẦN B. NỘI DUNG

                1. Cơ sở lí luận:

         Môi trường chúng ta đang sống bao gồm tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe, đời sống của con người. Môi trường cung cấp cho chúng ta không gian để sống, sinh hoạt, vui chơi giải trí và rất nhiều các hoạt động có ý nghĩa khác. Ngoài ra môi trường còn cung cấp nguồn tài nguyên để sản xuất và xuất khẩu, là nơi chứa đựng chất thải và rất nhiều những thứ khác nữa nhằm không ngừng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Xã hội càng phát triển kéo theo đó là sự ô nhiễm môi ngày càng nhiều. Các chất thải của các khu công nghiệp, sự ô nhiễm nguồn nước, bầu không khí... ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của con người đặc biệt là tới sức khỏe, các căn bệnh hiếm gặp như ung thư ngày trước thì bây giờ xuất hiện rất nhiều không còn là chuyện lạ. Nó cho thấy môi trường đang bị ô nhiễm rất nặng nề. Mỗi người trong xã hội chúng ta phải có ý thức chung tay góp sức bảo vệ môi trường sống cũng chính là bảo vệ tính mạng của chính mình.

Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chúng ta và rất nhiều loài động, thực vật khác. Chính phủ đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm xử lý, răn đe những tổ chức, cá nhân có hành vi làm tổn hại đến môi trường, rồi các công nghệ xử lý rác thải, phát minh khoa học ra đời nhằm giảm thiểu những tác động đến môi trường, cho chúng ta một môi trường trong lành để học tập, làm việc, nghỉ ngơi vui chơi giải trí.

Hiện nay, môi trường là vấn đề nóng bỏng của toàn nhân loại nói chung và của từng cá nhân nói riêng. Chúng ta thấy rằng, khí hậu ngày càng khắc nghiệt và khó dự báo hơn, mưa bão, lũ quét, động đất thất thường, suy thoái đất, nước, suy giảm nguồn tài nguyên rừng, ô nhiễm môi trường xảy ra trên diện rộng,… Đó là các vấn đề về môi trường mà toàn nhân loại đã và đang phải đối mặt. Con người đã tác động quá nhiều đến môi trường, khai thác đến mức cạn kiệt các nguồn tài nguyên, thải nhiều chất độc hại làm cho môi trường không còn khả năng tự phân hủy. Chính con người đã làm cho môi trường của chúng ta ngày càng ô nhiễm.

Hiện tượng ô nhiễm môi trường là những tác động làm thay đổi đến các thành phần của môi trường. Những thay đổi này làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người thông qua đường thức ăn, nước uống, không khí hoặc ảnh hưởng gián tiếp tới con người do thay đổi các điều kiện vật lí, hoá học và suy thoái tự nhiên.

 Bộ môn Hoá học đã góp phần giải quyết các vấn đề về năng lượng, nhiên liệu và vật liệu cho xã hội trong hiện tại và tương lai, giúp các em hiểu được những tác hại của các chất hoá học đối với môi trường và những thành tựu to lớn mà hoá học mang lại trong việc cải tạo môi trường, giảm thiểu ô nhiễm. Vì vậy, ngay từ bây giờ việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho con người là rất cần thiết, nhất là giáo dục cho các em học sinh đang còn ngồi trên ghế nhà trường là điều rất quan trọng. Mỗi người có ý thức thì sẽ góp phần làm cho môi trường của chúng ta trong sạch hơn.

2.Thực trạng vấn đề nghiên cứu:

          2.1. Đặc điểm cơ sở nghiên cứu:

2.1.1 Thuận lợi:

Trước khi thực hiện sáng kiến này tôi luôn trăn trở rằng không biết cá nhân mình có thể thực hiện sáng kiến này có hiệu quả hay không, nhưng nhờ được sự giúp đỡ của nhà trường từ việc cung cấp trang thiết bị, phòng học phục vụ cho việc giảng dạy, đến việc thường xuyên dự giờ đóng góp ý kiến, các đồng nghiệp dự giờ góp ý, hỗ trợ các thông tin cần thiết cho việc giảng dạy, bên cạnh đó một nhân tố vô cùng quan trọng góp phần vào việc thực hiện sáng kiến có hiệu quả hay không là sự cộng tác cởi mở từ phía những học sinh yêu quí của tôi.

Sự hỗ trợ của sách báo, đặc biệt là trên internet, thường xuyên trao đổi kiến thức với các đồng nghiệp thông qua mạng internet, tham khảo các bài viết của cá nhân trên trang violet.vn, thường xuyên theo dõi cập nhật thông tin cũng như chủ trương của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo về việc đưa kiến thức bảo vệ môi trường vào trong giảng dạy.

Bên cạnh đó là sự cộng tác nhiệt tình từ phía phụ huynh trong việc thường xuyên nhắc nhở các em ở nhà về ý thức bảo vệ môi trường cũng như trách nhiệm của cá nhân các em, ngoài ra còn có sự quan tâm của địa phương bằng việc tổ chức cho các em tham gia các buổi lao động dọn vệ sinh đường làng ngõ xóm, các khu chợ, nhà trường tổ chức các buổi lao động vệ sinh lớp học, khung cảnh nhà trường, quét dọn mộ nghĩa trang liệt sĩ. Từ đó càng rèn cho các em ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường mình đang sống và môi trường xung quanh.Giúp cho học sinh thấy được tầm quan trọng của môi trường đối với con người và với sức khỏe của con người. Để từ đó giáo dục tốt hơn nữa ý thức bảo vệ môi trường cho các em. Hơn thế nữa các em còn là các cộng tác viên rất nhiệt tình trong việc tuyên truyền cho mọi người xung quanh, người thân trong gia đình, bạn bè thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường.

2.1.2. Khó khăn:

Trước sự ô nhiễm môi trường như hiện nay, để bảo vệ chính mình và người thân của mình, thì mỗi con người phải có ý thức bảo vệ môi trường.     Thông qua những việc làm cụ thể là tất cả học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường đều phải có ý thức bảo vệ môi trường đang sống.Vì các em còn nhỏ nên việc nhận thức về môi trường cũng còn hạn chế, nhưng có nhiều việc làm để các em có thể góp một phần vào phong trào bảo vệ môi trường đang được thực hiện ở khắp mọi nơi trên đất nước và trên toàn thế giới. Để cùng chung tay góp sức với toàn thế giới trong vấn đề bảo vệ môi trường, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo nước ta đã và đang phát động các phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Môi trường xanh – sạch - đẹp”.   

           Hơn nữa đối với học sinh lớp 9, tuy các em đã có kiến thức cơ bản về môi trường nhưng vẫn còn hạn chế. Trong khi đó, thời gian của mỗi tiết học 45 phút,  chưa có máy quay dùng để thu thập tư liệu, tranh ảnh, các tư liệu về môi trường và bảo vệ môi trường còn hạn chế. Việc tiếp cận với internet của học sinh lớp 9 ở trường THCS nơi tôi đang giảng dạy còn rất ít do các em chưa có ý thức cao về bảo vệ môi trường đang sống, thiếu sự quan tâm từ phía gia đình thêm vào đó là sự thiếu hiểu biết, đa phần học sinh không có máy tính riêng ở nhà vì đại đa số gia đình các em đều làm nông nghiệp quanh năm với đồng ruộng, nên không có kinh phí để mua máy tính cho các em. Khó khăn hơn nữa là trường nằm ngoài đê trên vùng đất bãi cạnh sông Hồng  nên không có cơ quan, xí nghiệp nào đóng trên địa phương nên ngoài ngân sách nhà nước và Huyện cung cấp cho nhà trường, nhà trường hàng năm không nhận thêm được sự trợ cấp nào khác. Với biết bao khó khăn và mang tiếng là một trường vùng sâu vùng xa trong huyện với số lượng lớp ít nhất trong huyện nhưng không làm lung lay đội ngũ giáo viên nhiệt tình tâm huyết với nghề dẫu biết còn nhiều khó khăn nhưng nhà trường vẫn cố gắng hết khả năng tạo điều kiện để học sinh tiếp cận với công nghệ thông tin mới để các em được mở mang kiến thức về mọi lĩnh vực không thua kém các bạn ở các trường khác trong Huyện, nhất là về tình hình ô nhiễm môi trường đang diễn ra ngày càng trầm trọng như hiện nay.

  2.2. Thực trạng:

      Trong tài liệu chuẩn kiến thức và kỹ năng có yêu cầu xác định đúng trọng tâm, mức độ kiến thức, các yêu cầu của từng bài, từng tiết một cách hợp lý để học sinh không chỉ lĩnh hội được kiến thức mà còn biết vận dụng các kiến thức vào việc giải quyết các vấn đề thực tế, biết liên hệ nội dung bài học với cuộc sống thực tiễn, và thực hiện nhiệm vụ tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. Tuy nội dung tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh qua môn học đã triển khai nhiều năm nhưng hiệu quả đạt được chưa cao. Nhiều kiến thức liên quan đến môi trường học sinh giải thích còn mơ hồ và hiểu chưa sâu, chưa thể hiện và vận dụng được nhiều trong cuộc sống. Hơn nữa cơ sở vật chất còn hạn chế: phòng thí nghiệm của nhà trường, hóa chất và dụng cụ để học sinh thực hành đã bị hư hỏng nhiều, việc tiếp cận với máy tính của học sinh còn ít. Do đó khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống có liên quan đến môi trường và biện pháp bảo vệ môi trường của học sinh còn chưa rõ ràng. Hơn nữa trên địa bàn các em đang sống chủ yếu là sản xuất nông nghiệp(sản xuất hoa màu), một làng nhỏ có nghề truyền thống đó là sản xuất bánh chưng, bánh dày nên vấn đề giữ gìn và bảo vệ môi trường ở đây là vô cùng quan trọng.

           Sáng kiến kinh nghiệm về  “Tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Hóa học 9 ” là một sáng kiến khá quan trọng nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các em học sinh. Qua đây, chúng ta có thể nhờ các em mang các kiến thức về bảo vệ môi trường về tuyên truyền cho gia đình, bạn bè để mọi người chúng ta sẽ quan tâm nhiều hơn về môi trường họ đang sống và làm việc, chung tay góp sức chung vào việc bảo vệ môi trường,vì sức khỏe của chính mỗi người trong xã hội ngày càng phát triển kèm theo hàng trăm thứ bệnh tật đang đe dọa bất kì một ai nếu không có ý thức bảo vệ môi trường sống.

3. Cách thức tổ chức và biện pháp thực hiện:

3.1. Cách thức tổ chức:

Sáng kiến “Tích hợp giáo dục ý thức  bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Hóa học 9” là sáng kiến nhằm góp phần đưa việc giáo dục học sinh có ý thức tốt hơn đối với môi trường sống, bên cạnh đó làm tăng tính hứng thú và thực tế cho môn học.

Để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn hóa học nói chung, môn hóa học 9 nói riêng có hiệu quả là một việc không phải đơn giản và dễ dàng. Giáo viên phải giảng dạy đảm bảo đủ chuẩn kiến thức, kỹ năng của bộ môn, còn phải đưa những kiến thức về giáo dục môi trường từ cuộc sống thực tế vào bài giảng nhằm giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh. Bên cạnh đó phải thường xuyên tìm tư tiệu về bảo vệ môi trường như tranh ảnh, số liệu, các thí nghiệm có liên quan để phục vụ cho tiết dạy giáo dục bảo vệ môi trường. Nhưng thời gian của mỗi tiết học chỉ có 45 phút nên giáo viên không thể cung cấp nhiều kiến thức về môi trường cho các em.

3.2. Biện pháp thực hiện:

3.2.1. Biện pháp:

Để giảng dạy các tiết có giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh đạt hiệu quả, trước hết giáo viên phải nắm chắc chắn chuẩn kiến thức, kỹ năng của bài, kết hợp tìm tư liệu có liên quan như tranh ảnh, video,… đến kiến thức bảo vệ môi trường của từng nội dung bài học qua báo đài, internet…, xác định được mục tiêu khi tích hợp các kiến thức đó, những đơn vị kiến thức đó phải dễ hiểu, sự vật và hiện tượng mà giáo viên giới thiệu phải nằm trong tầm hiểu biết của học sinh lớp 9. Tránh trường hợp, nội dung tích hợp trở thành kiến thức trừu tượng, khó hình dung, rất dễ gây ra sự nhàm chán cho học sinh.

Bằng phương pháp giảng dạy đưa những kiến thức bảo vệ môi trường đơn giản, cụ thể gắn liền với cuộc sống và địa phương của các em, kết hợp với việc nhắc nhở của giáo viên trên lớp sẽ là một trong những yếu tố góp phần cho sự thành công cho tiết dạy có tích hợp kiến thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường.

Cần tổ chức những buổi ngoại khóa để học sinh có điều kiện tìm hiểu về vấn đề môi trường ở địa phương, để từ đó các em có biện pháp và hành động cụ thể bảo vệ môi trường nơi mình đang sống, đồng thời là tuyên truyền viên nhỏ tuổi trong việc chung tay góp sức bảo vệ môi trường. Thường xuyên liên hệ với môi trường các em hay sinh hoạt và hoạt động nhất là ở trường học, ở gia đình, ở địa phương.Và bản thân người giáo viên phải là một tấm gương trong vấn đề bảo vệ môi trường ngay ở tại trường cũng như ở nhà và ở ngoài xã hội.

Để cụ thể vấn đề nghiên cứu ở trên, qua tìm hiểu tài liệu và một số đề tài có liên quan, tôi có xây dựng hệ thống câu hỏi, câu trả lời và phương pháp giảng dạy các kiến thức cho một số bài có tích hợp kiến thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Hóa học 9.

 

3.2.2. . Một số ví dụ minh họa cho một số bài có tích hợp kiến thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường.

Bài 2 – Tiết 1: MỘT SỐ OXIT QUAN TRỌNG

a. Kiến thức tích hợp:

Trong quá trình sản xuất canxi oxit có sinh ra khí CO2, đây là chất khí gây ô nhiễm môi trường.

b. Phương pháp tích hợp:

Học sinh quan sát lò nung vôi:                                                                                                                                                                                                                                  

                        

? Em hãy cho biết lượng khí CO2 nếu thải ra quá nhiều vào không khí thì điều gì sẽ xảy ra?

à HS trả lời: Lượng khí CO2 sinh ra quá nhiều sẽ làm cho thành phần không khí thay đổi => ô nhiễm môi trường không khí. Khí CO2 không duy trì sự sống, đây là khí gây ra hiệu ứng nhà kính(thay đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai, băng tan và nước biển dâng, phá hủy hệ sinh thái).

Lượng khí CO2 tăng lên ảnh hưởng tới hệ thần kinh của các loài cá.

               Khí CO2 quả nhiều làm ảnh hưởng đến thần kinh của cá

 

? Em hãy cho biết các nguồn sinh ra khí CO2?

à HS trả lời: Do khí thải của quá trình đun nấu, khí thải của các nhà máy, lò đốt, đốt nhiên liệu của các phương tiện giao thông, cháy rừng chặt phá rừng bừa bãi, phân hủy xác sinh vật                                                                                                                                                                                   

    

Một số hoạt động thải  ra khí CO2

? Biện pháp nào để có thể giảm thiểu lượng khí CO2?

à HS trả lời: - Tăng mật độ trồng cây xanh ở nơi đô thị. Giáo dục cho mọi người ý thức trồng và bảo vệ cây xanh.

- Sử lí nguồn khí thải của các nhà máy lò đốt. Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho công nhân và chủ doanh nghiệp           

- Khuyến khích sử dụng các phương tiện giao thông công cộng.

 - Thay thế các nguyên vật liệu bằng các nguyên liệu khác thân thiện với môi trường                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                        

Cây cổ thụ hấp thu nhiều khí CO2 so với các cây non
Cây xanh hấp thụ khí CO2

 GV cần nhấn mạnh: Các hoạt động trên ngoài sinh ra khí CO2 còn sinh ra 1 số các khí độc khác gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe con người vì vậy việc làm giảm thiểu lượng khí CO2 thải ra môi trường chính là nhiệm vụ bảo vệ môi trường của mỗi chúng ta.

 

Bài 2- tiết 2: MỘT SỐ OXIT QUAN TRỌNG

a. Kiến thức tích hợp

Bên cạnh những ứng dụng của SO2, khí này còn gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường.

b. Phương pháp tích hợp: GV đưa ra các câu hỏi để học sinh tìm hiểu

? SO2 thải ra ngoài không khí có ảnh hưởng thế nào đến môi trường?

àTrả lời:

* SO2 là loại chất gây ô nhiễm nhất trong sản xuất công nghiệp cũng như trong sinh hoạt con người: SO2 là nguyên nhân gây ra hiện tượng mưa axit. Sự có mặt của oxit lưu huỳnh trong không khí nóng ẩm là tác nhân gây ăn mòn kim loại, bê tông và các công trình kiến trúc, phá hủy các tác phẩm điêu khắc, tượng đài ….

* SO2 đối với con người: chúng xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hòa tan với nước bọt ngấm vào đường tiêu hóa và máu làm giảm khả năng vận chuyển oxi của hồng cầu gây co hẹp dây thanh quản và khó thở.

 

Hiện tượng mưa axit

 

 

                    

        Tác hại của mưa axit                  Dùng S để sấy một số thực phẩm khô

 

? SO2 sinh ra do đâu?

àTrả lời: Nguồn thải SO2 chủ yếu là từ các trung tâm nhiệt điện, các loại lò nung, lò hơi đốt nhiên liệu than, dầu khí đốt có chứa S hay các hợp chất có chứa S. Ngoài ra còn một số công đoạn sản xuất công nghiệp hóa chất, luyện kim cũng thải vào khí quyển lượng khí SO2 đáng kể. Các hoạt động đốt nhiên liệu hàng ngày như than, rơm rác, các chất hữu cơ.

? Biện pháp để giảm thiểu khí thải SO2 ra ngoài khí quyển?

àTrả lời:

- Xử lí nguồn khí thải của các nhà máy lò đốt trước khi đưa ra ngoài khí quyển.

- Khu vực đun nấu thông thoáng, cải tiến bếp đun để có thể cháy triệt để nhiên liệu. Giáo dục ý thức sản xuất thực phẩm sạch để bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe cho chính chúng ta.

Hệ thống xử lý khí thải công nghiệp

Hệ thống xử lí khí thải công nghiệp SO2

 

GV nhấn mạnh: Để giữ gìn cho môi trường không bị ô nhiễm thì mỗi học sinh chúng ta cần tuyên truyền cho mọi người xung quanh hiểu về tác hại của SO2 và tuyệt đối không xử dụng S để sấy các thực phẩm khô.

 

Bài 11- tiết 16: PHÂN BÓN HÓA HỌC

a. Kiến thức tích hợp: Sử dụng phân bón không đúng cách gây ra hậu quả gì?

b. Phương pháp: Gv vấn đáp học sinh

? Phân bón có tác dụng kích thích quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Nhưng nếu bón phân quá nhiều thì lượng phân bón chưa sử dụng hết sẽ đi về đâu?

àHS trả lời sau đó Gv giải thích: Một phần giữ lại trong đất sử dụng cho vụ sau, một phần bị rửa trôi vào các sông suối ao hồ gây ô nhiễm nguồn nước, một phần bay hơi do tác dụng của nhiệt hay quá trình phản ứng nitrat hóa gây ô nhiễm không khí.

? Tại sao phân bón lại gây ô nhiễm môi trường và có hại với sức khỏe con người nếu dùng không đúng cách?

àHS trả lời sau đó Gv bổ sung:

- Bón quá nhiều phân đạm trong thời muộn cho rau quả sẽ làm tăng lượng -NO3 trong rau quả gây hội chứng trẻ xanh và ung thư dạ dày. Nếu lạm dụng quá nhiều thì lượng kim loại nặng có trong phân bón sẽ vượt quá mức cho phép gây hại cho sức khỏe con người.                                                                         

                   

                Rau bón quá nhiều phân đạm người trồng không dám ăn

- Bón phân hữu cơ chưa phân hủy hết: Khi ô nhiễm môi trường đất thì dễ dàng làm thay đổi tính chất của hệ mạch nước ngầm => ô nhiễm nguồn nước. Quá trình phân hủy chất hữu cơ trong phân hữu cơ sẽ tạo ra các khí nhà kính như CO2, CH4, H2S, NOx, SO2 … chúng góp phần giữ nhiệt trái đất, tham gia vào sự nóng lên toàn cầu một cách tích cực.

? Cho biết các biện pháp để giảm ô nhiễm môi trường, gây hại đối với con người?

àTrả lời:

- Sử dụng các loại phân bón hoặc các chất có tác dụng làm tăng hiệu suất sử dụng của phân bón. Cần sử dụng các loại phân bón chậm tan để cây trồng sử dụng một cách từ từ tăng hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng, giảm chi phí, giảm ô nhiễm môi trường, tăng sức khỏe cộng đồng.

- Tuyên truyền cho nông dân hiểu và sử dụng phân bón đảm bảo đúng qui trình kỹ thuật.

                  

Gv nhấn mạnh: Phân bón cung cấp các dưỡng chất giúp cây trồng phát triển nếu ta lạm dụng quá sẽ gây hại cho môi trường và sức khỏe con người. Vì vậy học sinh chúng ta phải tuyên truyền cho mọi người dân hiểu và sử dụng phân bón một cách hợp lí có hiệu quả.

 

Bài 20 – tiết 26  HỢP KIM SẮT: GANG, THÉP

a. Kiến thức tích hợp: Sản phẩm của quá trình sản xuất gang, thép với môi trường

b. Phương pháp tích hợp: Gv xử dụng phương pháp vấn đáp và quan sát hình ảnh để học sinh thấy được các sản phẩm phụ của quá trình sản xuất gang, thép có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường.

? Dựa vào thành phần của gang, thép và các phương trình hóa học xảy ra trong quá trình sản xuất gang, thép. Em hãy cho biết quá trình sản xuất đó còn thải ra các khí thải nào?

àHS trả lời: Trong quá trình sản xuất trên khí thải đó là: CO2, CO, SO2, H2S…

? Xung quanh các nhà máy sản xuất gang, thép, phân lân, gạch ngói, … cây cối thường ít xanh tươi, nguồn nước bị ô nhiễm. Điều đó giải thích như thế nào?

à Trả lời: Việc gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí là do nguồn chất thải dưới dạng khí thải, nước thải, chất thải rắn…

  - Những khí thải độc như: SO2, CO, CO2, H2S… có thể tác dụng trực tiếp hoặc là nguyên nhân gây mưa axit làm hại cho cây.

  -  Nguồn nước thải chứa các kim loại nặng, các gốc nitrat, clorua, sunfat,… sẽ có hại cho các sinh vật trong nước và thực vật.

  - Những chất thải rắn như xỉ than và một số chất hóa học sẽ làm cho đất bị ô nhiễm, không thuận lợi cho sự phát triển của cây.

=>Biện pháp để bảo vệ môi trường là nhà máy phải xây dựng theo chu trình khép kín, đảm bảo khử được phần lớn chất độc hại trước khi thải ra môi trường.

GV nhấn mạnh: Qua các bài học các em đã được học, các em thấy trong quá trình phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa thì không ít những chất thải gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển của sự sống trên trái đất và hơn nữa chính là sức khỏe của mỗi chúng ta. Vậy mỗi chúng ta phải có ý thức bảo vệ môi trường và tuyên truyền cho tất cả mọi người cùng chung tay bảo vệ môi trường.

Bài 28 – tiết 34: CÁC OXIT CỦA CACBON

a. Kiến thức tích hợp: Các oxit của cacbon với môi trường.

b. Phương pháp tích hợp: Dựa vào tính chất đã học Gv giới thiệu cho học sinh những tác hại khác của khí CO và CO2.   

 * Khí CO kết hợp với hemoglobin trong máu ngăn không cho máu nhận oxi và cung cấp oxi cho tế bào và do đó gây ra tử vong cho người.

- GV cung cấp thông tin thời sự: Mỗi năm Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cấp cứu từ 10 đến 20 bệnh nhân ngộ độc do hít phải khí than (Chứa CO, CO2 NO2 , SO2). Bên cạnh những ca tử vong, cũng có không ít người không thể trở lại bình thường do não bị ảnh hưởng, thậm chí có người chỉ còn sống thực vật. (Theo: vnexpress.net)

- Thông tin: Nam nữ trú tại khu phố Đổng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã bị ngạt khí CO từ 2 bếp than tổ ong để trong nhà.

Hai bếp lò trong căn nhà nạn nhân

* Khí CO được sinh ra từ đâu?

 àHS trả lời: CO là sản phẩm của các quá trình đốt cháy xăng, dầu, gỗ và các nhiên liệu khác(than)… Nguy cơ ngộ độc CO xảy ra khi CO tích tụ quá nhiều trong một không gian kín, thông khí kém.

=> Mỗi bếp than là một lò khí độc.

* Khí CO2 nguy hại cho sức khỏe và gây ra hiệu ứng nhà kính

 

? Biện pháp để giảm thiểu lượng khí CO và CO2?

àTrả lời:-  Thông khí là biện pháp phòng ngừa đơn giản ngộ độc khí CO. Cần đun than ở nơi thoáng, có gió. Tuyệt đối không dùng bếp than để sưởi và ủ bếp trong phòng kín.

- Trồng cây xanh, bảo vệ rừng và biển. Biển là kho khổng lồ để chứa CO2.

- Thay thế các nhiên liệu hóa thạch bằng nguồn năng lượng xanh như: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, thủy điện…

bn

  

                              Tham gia trồng cây bảo vệ rừng và biển..

 

    

Nhà máy điện năng lượng mặt trời

 

Nhà máy phát điện sử dụng năng lượng gió

 

GV nhấn mạnh: Để bảo vệ bầu khí quyển cũng chính là bảo vệ sức khỏe của mỗi chúng ta. Là học sinh chúng ta hãy tuyên truyền cho mọi người biết về tác hại của khí CO và CO2. Hạn chế dùng nguồn nhiên liệu từ than, hãy đun nấu ở nơi thông thoáng, cải tiến bếp đun để nhiên liệu cháy triệt để, không dùng than hoặc củi để sưởi ấm.

 

Bài 36 – tiết 45: METAN

a. Kiến thức tích hợp: Nguồn sinh ra khí metan trong tự nhiên, metan đối với môi trường và ý thức bảo vệ môi trường.

b. Phương pháp tích hợp: Học sinh nghiên cứu trạng thái tự nhiên của metan => nguồn gốc sinh ra khí metan. Tác động của metan đối với môi trường tự nhiên để từ đó học sinh có ý thức trong việc bảo vệ môi trường, phương pháp giảm thiểu nồng độ khí metan trong khí quyển.

? Khí metan có ở đâu?

à HS trả lời: Metan có nhiều trong các mỏ khí, trong khí mỏ dầu, khí mỏ than, khí bùn ao, khí biogaz.

? Vì sao khí metan được thoát ra từ các ruộng lúa, ao hồ?

à HS trả lời: Trong các ruộng lúa, ao hồ thường có chứa các vật thể hữu cơ. Khi các vật thể này thối rữa(quá trình phân hủy chất hữu cơ) sinh ra khí metan.

 GV giới thiệu: Metan là loại khí gây hiệu ứng nhà kính nguy hiểm thứ 2 sau khí CO2 .

peat swamp tripa aceh     

                                Nguy cơ biến đổi khí hậu từ khí metan

 

? Địa phương em là làng nghề sản xuất bánh chưng, bánh dày, các sản phẩm thừa chính là chất hữu cơ. Vậy làm thế nào để các sảm phẩm đó phân hủy không gây ô nhiễm môi trường?

à HS trả lời: Không vứt rác thải như lá rong hay cuống lá xuống ao, mương máng mà phải gom đúng nơi qui định.

 GV nhấn mạnh: Làm hầm bioga trong chăn nuôi, làng nghề sản xuất tạo khí metan để sử dụng đun nấu hay chạy máy. Không vứt rác thải hữu cơ (thực vật) xuống ao hồ hay mương máng. Đây là cơ sở để giải quyết các vấn đề môi trường ở các địa phương chăn nuôi nhỏ lẻ.

 

 

Bài 54 – tiết 65,66: POLIME

a. Kiến thức tích hợp: Polime có ứng dụng rất quan trọng trong nhiều lĩnh vực đời sống và sản xuất. Nhưng nếu sử dụng không có ý thức sẽ gây ô nhiễm môi trường.

b. Biện pháp tích hợp: GV vấn đáp để học sinh hiểu được nếu thải bừa bãi các sản phẩm làm từ polime ra môi trường sẽ làm môi trường ô nhiễm.

? Polime có rất nhiều ứng dụng trong đời sống và sản xuất. Vậy Polime có nhược điểm gì?

à HS trả lời:

? Vậy chúng ta cần phải làm gi để bảo vệ môi trường?

à HS trả lời: - Tái sử dụng hoặc không sử dụng nữa thì phải bỏ đúng nơi qui định.

- Sử dụng hợp lí và tiết kiệm các sản phẩm polime.

- Thay sử dụng các sản phẩm như túi nilon bằng các sản phẩm khác thân thiện với môi trường.

     Hãy sử dụng túi vải không dệt để bảo vệ môi trường

 

Hãy sử dụng túi vải không dệt để bảo vệ môi trường

  
Sản phẩm  đồ dùng đồ chơi  làm từ các nguyên vật liệu đã qua sử dụng như hộp nhựa, bìa cát tông, hộp, chai lọ....

GV nhấn mạnh: Polime là chất rất khó phân hủy, có khi thời gian phân hủy hàng trăm năm. Nếu thải ra ngoài môi trường sẽ ảnh hưởng lớn đến môi trường do vậy hãy chung tay bảo vệ môi trường bằng những việc làm thiết thực trên.

 Là học sinh chúng ta hãy tuyên truyền cho tất cả mọi người xung quanh hiểu và cùng nhau bảo vệ môi trường.

4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm:

          Sau khi thực hiện tích hợp các kiến thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào các tiết học Hoá học 9 tôi có đưa ra một số câu hỏi điều tra để kiểm tra sự tiếp thu kiến thức của học sinh vào thực tế cuộc sống. Để qua đây tôi có thể đánh giá được sự liên hệ kiến thức của học sinh với thực tế như thế nào.Qua đó giúp tôi có hướng điều chỉnh cũng như phát triển phương pháp này ở các khối khác.  Nội dung câu hỏi điều tra như sau:

Nội dung phiếu điều tra

Câu 1: Tại sao các lò nung sản xuất vôi đều được xây dựng ở nơi thoáng gió và xa nơi dân cư sinh sống?

a. Vì xung quanh lò vôi rất nóng.

b. Để tiện đường vận chuyển nguyên vật liệu.

c. Xung quanh lò vôi nóng, khí CO2 và bụi nhiều gây ô nhiễm môi trường.

Câu 2: Hiện tượng mưa axit là do không khí bị ô nhiễm bởi các dãy khí.

a. Cl2, CH4, SO2                                                b. HCl, CO, CH4

c. CO, CO2, NO                                                d. SO2, NO, NO2

Câu 3: Hiện tượng hiệu ứng nhà kính là hiện tượng Trái đất đang ấm dần lên…

Trong các khí dưới đây, khí nào là nguyên nhân chính gây ra hiệu ứng nhà kính.

a. N2                      b. H2               c. CO2            d. O2          

Câu 4: Em cần phải làm gì để giảm thiểu lượng khí metan trong khí quyển?

a. Không nên vứt rác thải hữu cơ xuống ao, hồ.

b. Nên đổ rác xuống ao, hồ.

c. Không nên để rác đúng quy định.

d. Treo bảng thông báo quy định.

Câu 5: Hàm lượng khí CO2 trong không khí luôn cân bằng là do.

a. CO2 trong không khí có khả năng tác dụng với các chất khí khác.

b. Do quá trình quang hợp của cây xanh và quá trình hô hấp ở thực và động vật.

c. CO2 bị hòa tan trong nước mưa.

d. CO2 bị phân hủy bởi nhiệt.

Câu 6: Trong các chất sau, chất không làm ô nhiễm môi trường đất là.

a. Các kim loại nặng trong phế thải luyện kim, sản xuất ô tô.

b. Phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.

c. Chất phóng xạ.

d. a, b, c đều sai

Câu 7: Nguyên nhân nào làm tăng lượng khí CO2 trong khí quyển.

a. Rừng bị tàn phá.

b. Đốt than, củi, xăng, dầu, khí thiên nhiên.

c. Sự bùng nổ dân số.

d. a,b,c đều đúng

Câu 8: Quá trình nào sau đây không nên dùng để làm giảm nồng độ CO2 trong khí quyển.

a. Sự quang hợp của cây xanh.

b. Sự biến đổi CaCO3 thành Ca(HCO3)2.

c. Sự hấp thụ khí CO2 của dung dịch Ca(OH)2.

d. Sự cắt giảm việc đốt than củi, xăng dầu...

Câu 9: Nhà máy nhiệt điện ở nước ta bên cạnh cung cấp điện cho nền kinh tế quốc dân, các nhà máy này còn gây tác hại gì cho môi trường?

a. Gây mưa axit và hiệu ứng nhà kính

b. Phá hủy tầng ozon và hiệu ứng nhà kính.

c. Ô nhiễm nguồn nước và hiệu ứng nhà kính

d. Tất cả các tác hại trên.

Câu 10: CO là chất khí độc, Trường hợp nào sau thể gây tử vong cho con người do bị ngộ độc khí CO.

a. Dùng bình ga để nấu nướng ngoài trời.

b. Nổ máy ô tô trong gara.

c. Chạy máy nổ để phát điện trong nhà đóng kín cửa.

d. Đốt bếp, đốt lò chỗ thoáng khí.

 

Đáp án của phiếu điều tra:

 

Câu

Đáp án

1

c

2

d

3

c

4

a

5

b

6

d

7

d

8

c

9

d

10

c

 

Trước khi tích hợp kiến thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong giảng dạy thì kết quả thu được khi phát phiếu điều tra của lớp 9A( 31 học sinh ).

Câu

a

b

c

d

1

5

11

15

 

2

2

8

7

14

3

7

9

14

1

4

13

7

6

5

5

12

10

7

2

6

3

2

2

24

7

2

2

2

25

8

6

7

13

5

9

5

7

6

13

10

2

7

17

5

 

Thông qua kết quả giảng dạy khi tích hợp kiến thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong giảng dạy, phát phiếu điều tra lớp cũng lớp đó thì thu được kết quả thu được như sau:

Câu

a

b

c

d

1

2

1

28

 

2

1

1

1

28

3

1

1

29

1

4

27

1

1

2

5

0

30

1

0

6

1

0

0

30

7

0

0

0

31

8

2

1

27

1

9

2

1

2

26

10

2

0

27

2

Thông qua hai kết quả thu được trước và sau khi tích hợp kiến thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào giảng dạy kết quả thu được có thay đổi, học sinh trả lời đúng câu hỏi nhiều hơn tỉ lệ cao hơn trước. Qua đây tôi thấy học sinh đã có ý thức hơn trước rất nhiều về việc bảo vệ môi trường, không vứt rác bừa bãi ra lớp cũng như ra sân trường, biết giữ gìn khung cảnh chung của nhà trường và của lớp học.Học sinh đã vận dụng rất tốt kiến thức được tích hợp qua từng bài học vào việc bảo vệ môi trường.Tuy số lượng bài tôi tích hợp bảo vệ môi trường không được nhiều nhưng đó cũng là một kết quả rất tốt.

PHẦN C. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

1. Kết luận:

- Thiết kế bài giảng, cách tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức Hóa học:

 + Giáo viên cần xác định rõ nội dung kiến thức của bài, trong quá trình soạn giảng cần tạo được các tình huống có vấn đề, giữa kiến thức mà học sinh đã biết và kiến thức bài mới học sinh chưa biết. Từ đó, tạo ra động lực để giúp các em tìm hiểu nội dung kiến thức của bài.

+ Sau mỗi tiết học giáo viên củng cố kiến thức trọng tâm của bài học. Có thể củng cố bằng nhiều hình thức khác nhau để gây hứng thú học tập cho học sinh như: đưa ra các bài tập nêu vấn đề và hệ thống câu hỏi gợi mở, có thể là cho học sinh trả lời câu hỏi trắc nghiệm, hoặc củng cố bằng các trò chơi liên hệ với kiến thức thực tế về bảo vệ môi trường nơi mình đang ở.

+ Bên cạnh đó, giáo viên phải biết vận dụng các kiến thức trong bài dạy vào các hoạt động thực tế có liên quan và giải thích cụ thể cho học sinh thấy được tác dụng của việc bảo vệ môi trường đối  với sức khỏe của con người. Từ đó, tạo được hứng thú học tập cho học sinh với môn Hóa học nhất là những giờ học có sự tích hợp kiến thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào trong giờ dạy.

+ Đồng thời, giáo viên phải phối kết hợp nhuần nhuyễn có hiệu quả các phương pháp dạy học Hóa học: sử dụng kênh hình, đàm thoại, giải thích, các thí nghiệm biểu diễn, tranh ảnh  nêu vấn đề,.. để tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách có hiệu quả.

-  Điều hành tổ chức hoạt động của học sinh trên lớp:

+ Giáo viên cần đưa ra các yêu cầu của bài học, nội dung kiến thức trọng tâm thông qua việc trình bày nêu vấn đề ở đầu bài hay mỗi đầu mục.

+ Tạo không khí học tập tích cực, giáo viên phải tạo ra mỗi giờ học là một niềm vui, niềm say mê trong học tập của học sinh. Giáo viên luôn tạo ra những thách thức vừa sức, tổ chức những hoạt động tự lực của học sinh trong từng tiết học.

- Đánh giá và theo dõi kết quả học tập của học sinh sau mỗi giờ dạy, kịp thời động viên, nhắc nhở các em có ý thức tự học. Khích lệ những học sinh có tiến bộ. Để từ đó các em ngày càng yêu thích môn học hơn nữa.

- Thông qua tình hình thực tế, khi tôi tích hợp kiến thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào trong từng bài học này tôi thấy rằng, tuy thời gian để tôi tích hợp kiến thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong mỗi đơn vị kiến thức có liên quan đến môi trường là rất ít nhưng học sinh có chú ý đến kiến thức về môi trường, và các em cũng có vận dụng những kiến thức đó vào trong cuộc sống hàng ngày, đôi khi các em còn đưa ra nhiều ý kiến rất hay trong vấn đề bảo vệ môi trường mà bản thân tôi là giáo viên cũng chưa nghĩ được ra.  Ngoài ra, các em còn là những tuyên truyền viên rất tích cực về bảo vệ môi trường tại gia đình và địa phương, giúp mọi người có ý thức giữ gìn môi trường mình đang sống vì sức khỏe của mỗi người nói chung và của từng người nói riêng. Mỗi chúng ta, mỗi người chung tay góp sức vì một cuộc sống trong lành và ổn định hơn.

- Nhưng do thời gian ngắn nên tôi chưa nghiên cứu sâu mà chỉ có một số bài học có nội dung tích hợp môi trường. Trong quá trình làm đề tài sẽ không tránh khỏi sự thiếu sót rất mong được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp và các bạn đọc để sáng kiến kinh nghiệm về  “Tích hợp giaó dục ý thức bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Hóa học 9 của tôi đạt kết quả cao hơn trong việc dạy học và cả ý thức về bảo vệ môi trường của học sinh.

2. Kiến nghị:

Cần phải tổ chức các cuộc thi cho học sinh về đề tài bảo vệ môi trường nhân dịp những ngày lễ lớn trong năm hoặc vào các ngày gắn với môi trường.

        Nhà trường cần phải tạo điều kiện cho giáo viên bộ môn tổ chức những buổi sinh hoạt ngoại khóa về giáo dục bảo vệ môi trường cho các em, thông qua những buổi ngoại khóa thực tế này giáo viên có thể chỉ cho các em những việc làm cụ thể nhằm bảo vệ môi trường các em đang sống và sinh hoạt.

        Cần trang bị thêm các thiết bị dạy học cần thiết cho môn học như: máy ảnh kĩ thuật số hoặc camera để giáo viên có công cụ tiện cho việc thu thập thông tin về những hình ảnh ô nhiễm môi trường cụ thể ở địa phương hoặc các khu vực khác.

 

Hà nội, ngày 18 tháng 4 năm 2016

 

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN D. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Sách giáo viên  hóa học 9, sách giáo khoa hóa học 9

2.  Sách thiết kế bài soạn Hóa học 9 – các phương án cơ bản và nâng cao.

                                                         NXB Giáo dục – Đặng Thi Oanh(Chủ biên)

3. Sách hóa học cơ bản và  nâng cao 9

                                                           NXB Giáo dục – Ngô ngọc An

 4.Sách bồi dưỡng hóa học trung học cơ sở.

                                                           NXB Giáo dục – Vũ Anh Tuấn

5. Bài tập trắc nghiệm hóa học 9

                                                           NXB Giáo dục – Nguyễn Xuân Trường

6. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học THCS.

7. Đọc thêm tài liệu trên internet, báo đài….