MỤC LỤC

Tiêu đề

Trang

PHẦN A. MỞ ĐẦU:

 

1. Lí do chọn đề tài.

2

2. Mục đích nghiên cứu.

3

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.

3

4. Phương pháp nghiên cứu.

3

5. Kế hoạch nghiên cứu

4

PHẦN B. NỘI DUNG:

 

1. Cơ sở lí luận và thực tiễn.

5

2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu:  

6

3. Cách thức tổ chức và các biện pháp thực hiện:

7

     3.1.  Cách thức tổ chức:

7

     3. 2. Biện pháp thực hiện:

8

                3.2.1  Biện pháp thực hiện

8

                 3.2.2.  Một số ví dụ minh họa cho một số bài có tích hợp liên môn.

9

4. Kết quả đạt được

17

PHẦN C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ:

19

PHẦN D. TÀI LIỆU THAM KHẢO       

         

21

 

PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lí do chọn đề tài.

  Giáo dục phổ thông nước ta đã và đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học  theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất để nâng cao các chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục. Môn  Địa lí cũng không nằm ngoài quy luật trên. Mục tiêu của môn Địa lí cũng như các môn học khác là đào tạo ra những con người có năng lực làm việc, vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết những tình huống, vấn đề trong cuộc sống.

Hiện nay, bên cạnh các phương pháp dạy học thì các kĩ thuật dạy học cũng rất đa dạng: kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật ổ bi, kĩ thuật bể cá, kĩ thuật XYZ, kĩ thuật 365, kĩ thuật sơ đồ KWL, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật trạm góc…v.v.

Trong thực tiễn lập kế hoạch và tiến hành dạy học, người thầy giáo thường xuyên đối diện với câu hỏi: làm thế nào để lựa chọn phương pháp dạy học cũng như kĩ thuật dạy học phù hợp và có hiệu quả? Phần trả lời cho câu hỏi này là: cần phải chọn những phương pháp, những kĩ thuật dạy học có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạy học; cần lựa chọn các phương pháp cũng như kĩ thuật dạy học tương thích với nội dung học tập; cần lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy dọc phù hợp với điều kiện dạy học; lựa chọn phương pháp và kĩ thuật dạy học còn cần chú ý đến hứng thú, nhu cầu của học sinh.

  Bản thân tôi cũng đã tìm hiểu nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học mới để tạo hứng thú học tập, hình thành và phát triển năng lực cho học sinh trong giờ học Địa lí. Trong đó tôi đã thử áp dụng một số kĩ thuật dạy học mới để hình thành và phát triển năng lực cho học sinh đó là: Sử dụng kết hợp giữa kĩ thuật mảnh ghép, phòng tranh với trạm góc để giảng dạy và bước đầu đã có những biểu hiện tích cực trong hình thành và phát triển năng lực cho học sinh góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học  Địa lí. Chính vì lí do trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này để ghi lại ý tưởng mà bản thân đã thực hiện trong qúa trình giảng dạy Địa lí ở trường THCS.

2. Mục đích nghiên cứu.

     - Tôi muốn thông qua các tiết dạy có sử dụng kết hợp giữa kĩ thuật mảnh ghép với kĩ thuật phòng tranh và kĩ thuật trạm góc để chỉ ra được tính ứng dụng của việc sử dụng các kĩ thuật dạy học trong giảng dạy và học tập bộ môn Địa lí. Bên cạnh đó, việc sử dụng kết hợp giữa kĩ thuật mảnh ghép với kĩ thuật phòng tranh và kĩ thuật trạm góc nói riêng cũng như các kĩ thuật khác nói chung sẽ giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ, dễ liên hệ kiến thức, tích cực, chủ động, đoàn kết và yêu thích môn học hơn. Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu đề tài, tôi mong muốn sẽ góp thêm một trang tư liệu tham khảo cho giáo viên trong giảng dạy môn Địa lí.

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

- Thực hiện đề tài ở các khối lớp 6,7,8,9 . Tuy nhiên để thấy được hiệu quả của việc sử dụng kết hợp giữa kĩ thuật mảnh ghép với kĩ thuật phòng tranh  và kĩ thuật trạm góc trong dạy học bộ môn Địa lí thì tôi thực hiện đề tài này đối với các lớp 6B, 7B, 8B,9B còn với các lớp 6A, 7A, 8A, 9A tôi vẫn sử dụng phương pháp thảo luận nhóm truyền thống (học sinh được phân chia thành các nhóm, cùng thảo luận một vấn đề và cử đại diện trình bày).

- Thời gian nghiên cứu: năm học 2018 – 2019 và 2019-2020.

4. Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thu thập số liệu

+ Thu thập số liệu bằng cách tham khảo tài liệu.

+ Thu thập số liệu từ những thực nghiệm.

-  Phương pháp quan sát.   

+ Quan sát, nghiên cứu cách học sinh tìm hiểu tài liệu SGK.

+ Quan sát để ghi nhận thái độ: qua các động tác và những biểu đạt bằng hành động ( ánh mắt, nụ cười… ) và ngôn ngữ của học sinh.

-  Phương pháp vấn đáp.   

+ Đặt hệ thống câu hỏi phù hợp với từng nội dung kiến thức của từng bài học cụ thể để học sinh vận dụng kiến thức có được trả lời các câu hỏi của giáo viên.

5. Kế hoạch nghiên cứu:

- Việc sử dụng kết hợp kĩ thuật mảnh ghép với kĩ thuật phòng tranh và kĩ thuật trạm góc vào dạy học Địa lí không phải bài nào cũng có thể thực hiện được mà đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu cũng như tìm hiểu bài rất kĩ nội dung, phạm vi kiến thức của từng bài để có thể sử dụng các kĩ thuật dạy học trên một cách hợp lý, không gây cho học sinh căng thẳng mà phải tạo được sự chú ý cũng như sự ham mê học hỏi kích thích sự tò mò của học sinh. Từ đó, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh từ đó giúp các em bồi dưỡng phương pháp tự học và tự mình hình thành khả năng học tập suốt đời.

Thực tế khi áp dụng kĩ thuật mảnh ghép kết hợp với kĩ thuật phòng tranh và kĩ thuật trạm góc, tôi còn gặp nhiều khó khăn do sĩ số của một số lớp tương đối đông, với diện tích lớp học hiện tại chỉ có thể chia lớp thành 4 – 6 nhóm, mỗi nhóm tối đa 7 em, không thể tăng thêm số học sinh trong nhóm vì khoảng diện tích di chuyển giữa các nhóm rất nhỏ.

- Đầu tiên tôi sẽ đảm bảo mỗi giờ dạy trên lớp sẽ truyền thụ đầy đủ kiến thức trọng tâm của một giờ dạy Địa lí để các em nắm chắc được kiến thức cũng như biết cách vận dụng nó khi trao đổi, thảo luận nhóm về vấn đề học tập của nhóm mình.

           - Sau đó tôi sẽ nghiên cứu kĩ học lực, khả năng nhận thức của từng em học sinh trong lớp, kết hợp với sĩ số của lớp học để có kế hoạch phân chia nhóm một cách linh hoạt, hợp lí.

           - Tiếp theo, tôi cho học sinh các lớp nắm được kĩ thuật và yêu cầu của kĩ thuật (trước khi thực sử dụng kĩ thuật).

- Để có thể sử dụng kết hợp cả ba kĩ thuật này trong một giờ học thì tôi phải xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ, yêu cầu tìm hiểu bài cho học sinh trước từ 1 đến 2 tuần.  Như vậy, các em sẽ có thời gian để thảo luận tại nhà với nhau, các em có thời gian để tìm hiểu, sưu tầm được tranh ảnh minh họa cho nội dung học tập của nhóm mình cũng như các em có thời gian để chuẩn bị làm một mô hình học tập cụ thể để thuyết trình nội dung học tập của nhóm.

          - Bước tiếp theo nữa là tôi triển khai việc sử dụng ba kĩ thuật trên trong các mục, các bài Địa lí cụ thể. Trong quá trình các em thực hành theo các kĩ thuật, tôi quan sát cũng như hỗ trợ các em nếu các em cần sự giúp đỡ.

          - Cuối cùng tôi sẽ cho các em trả lời các câu hỏi tôi đưa ra về phạm vi kiến thức mà các em đã tìm hiểu, thảo luận, trình bày. Qua đó tôi sẽ đánh giá được sự tiếp nhận kiến thức mới của các em, để từ đó có thể phát triển cũng như triển khai sâu rộng hơn vào các tiết dạy tiếp theo. Hơn nữa, tôi có thể yêu cầu học sinh nêu ra những khó khăn hay những bài học mà các em rút ra được khi các em cùng nhau thảo luận, trình bày, hay di chuyển đến các trạm. Từ đó học sinh sẽ hiểu chắc hơn nội dung kiến thức bài học đồng thời khơi dậy được niềm đam mê học Địa lí của các học sinh làm thay đổi suy nghĩ từ trước tới giờ của học sinh là học Địa lí vừa khô khan, vừa khó hiểu…Qua đây sẽ tạo động lực cho học sinh học môn Địa lí tốt hơn và có kết quả cao.

 

 

PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

  1. Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1 - Cơ sở lý luận.

       Theo nghị quyết của hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định:“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực, kỹ năng của người học. Tập trung dạy cách học cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Tiếp tục phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ thuật thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”.

Luật Giáo dục cũng quy  định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế”

Yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nên giáo viên cần vận dụng các phương pháp soạn giảng cho phù hợp để đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, từ đó có thể hình thành và phát triển năng lực cho học sinh.

Việc dạy học  Địa lí nói chung cần đảm bảo các nguyên tắc giáo dục, đây là các luận điểm có tính chất chỉ đạo, những quy định, yêu cầu cơ bản mà người giáo viên cần phải tuân thủ để mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy học. Việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp với từng phần nội dung kiến thức đã căn cứ vào các nguyên tắc giáo dục.

Qua thực tiễn giảng dạy tôi thấy rằng việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học kiểu mới như: sự phối kết hợp giữa kĩ thuật các mảnh ghép với phòng tranh và trạm góc cũng như  một số phương pháp, kĩ thuật dạy học khác đã giúp hình thành và phát triển năng lực học sinh,  giúp các em lĩnh hội các  khái niệm, kiến thức Địa lí đều đảm bảo các nguyên tắc trên, nhất là các nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức đối với học sinh và nguyên tắc bảo đảm tính tự lực và phát triển tư duy cho học sinh nhưng không kém phần thú vị, hấp dẫn thu hút học sinh

1.2 - Cơ sở thực tiễn.

Môn Địa lí là bộ môn có vai trò quan trọng, qua đó học sinh có thể hiểu biết về điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và thế giới, từ đó hoàn thiện và phát triển nhân cách con người. Tuy nhiên, thực trạng của việc dạy và học Địa lí trong nhà trường phổ thông hiện còn những tồn tại là nội dung của nhiều bài giảng Địa lí rất khô khan, trừu tượng với một không gian địa lí rộng lớn, ít có điều kiện trải nghiệm thực địa…nên chưa tạo được sự hứng thú học đối với học sinh.

Khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm thông thường thì tôi lại thấy tồn tại những vấn đề như:

  • Trong mỗi nhóm hầu như chỉ có vài học sinh làm việc, một số học sinh khác nói chuyện, làm việc riêng không chú tâm vào làm việc.
  • Kết quả thảo luận của cả nhóm đôi khi chỉ là ý kiến của một hoặc vài cá nhân.
  • Không có sự phân chia nhiệm vụ giữa các thành viên trong nhóm.
  • Kết quả thảo luận nhóm nhiều lúc chưa hoàn thành hoặc chưa đạt được yêu cầu của giáo viên đưa ra.

        Những hạn chế trên đã phần nào dẫn đến sự nhàm chán trong các em, giảm đi tính tích cực trong học tập của các em.

Yêu cầu hiểu biết địa lí, nhu cầu cuộc sống hiện tại và tương lai đặt cho giáo viên bộ môn Địa lí nhiệm vụ: Làm thế nào nâng cao chất lượng dạy và học Địa lí, kích thích sự hứng thú học sử cho học sinh. Để hoàn thành nhiệm vụ này đòi hỏi giáo viên dạy  không chỉ có kiến thức vững vàng về bộ môn Địa lí mà còn phải có những hiểu biết vững chắc về các phương pháp cũng như các kĩ thuật dạy học để vận dụng vào bài giảng Địa lí làm phong phú và hấp dẫn thêm bài giảng.

2- Thực trạng vấn đề nghiên cứu:

  2.1- Thuận lợi:

     Trước khi thực hiện sáng kiến này tôi luôn trăn trở rằng không biết cá nhân mình có thể thực hiện sáng kiến này có hiệu quả hay không, nhưng nhờ được sự giúp đỡ của nhà trường từ việc cung cấp trang thiết bị, phòng học phục vụ cho việc giảng dạy, đến việc thường xuyên dự giờ đóng góp ý kiến, các đồng nghiệp dự giờ góp ý, hỗ trợ các thông tin cần thiết cho việc giảng dạy, bên cạnh đó một nhân tố vô cùng quan trọng góp phần vào việc thực hiện sáng kiến có hiệu quả hay không là sự cộng tác cởi mở từ phía những học sinh yêu quý của tôi.

     Sự hỗ trợ của sách báo, đặc biệt là trên internet, thường xuyên trao đổi kiến thức với các đồng nghiệp thông qua mạng internet, tham khảo các bài viết của cá nhân trên trang Violet.vn, thường xuyên theo dõi cập nhật thông tin cũng như chủ trương của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo về việc sử dụng các phương pháp, các kĩ thuật dạy học mới trong giáo dục.

     Bên cạnh đó, là sự cộng tác nhiệt tình từ phía phụ huynh trong việc thường xuyên nhắc nhở các em học tập ở nhà. Ngoài ra, còn có sự quan tâm của Phòng Giáo Dục và Đào Tạo thông qua việc tổ chức các tiết chuyên đề cấp huyện để giáo viên có cơ hội học hỏi và trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với nhau. Đồng thời, còn thường xuyên cung cấp các tài liệu chuyên môn, sách báo cho giáo viên thông qua địa chỉ gmail chung của nhóm Địa lí.

2.2- Khó khăn:  

    Về phía giáo viên: các lớp đạo tào, hướng dẫn các phương pháp, các kĩ thuật dạy học mới cho giáo viên nói chung và giáo viên Địa lí nói riêng còn hạn chế. Phần lớn các giáo viên phải tự tìm tỏi, học hỏi trên các trang mạng hay từ đồng nghiệp nên việc nắm chắc phương pháp của các kĩ thuật còn hạn chế.

    Về phía học sinh: qua thực tế giảng dạy, chúng ta nhận thấy có thể do nhiều lý do khác nhau mà phần lớn các em học theo xu huớng thụ động, các em không tích cực trong học tập.

Bản chất của “ phép cộng” ba kĩ thuật này là sự kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp; kích thích sự tham gia tích cực của học sinh; nâng cao vai trò cá nhân trong quá trình hợp tác.Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó, khi áp dụng ba kĩ thuật này vẫn còn tồn tại không ít những khó khăn như:

- Những lớp có sĩ số đông gây khó khăn cho giáo viên trong việc chia nhóm.

- Học sinh thường lộn xộn khi chuyển từ vòng I sang vòng II.

- Cần nhiều thời gian cho hoạt động học tập, trong khi thời gian của một tiết học chỉ có 45 phút.

- Không phải bài học/ nội dung nào cũng kết hợp được cả ba kĩ thuật này.

3. Các biện pháp đã tiến hành.

3.1.1. Thế nào là kĩ thuật mảnh ghép và phòng tranh?

  - Kĩ thuật mảnh nghép là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm.

- Kĩ thuật phòng tranh có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm. Khi thực hiện nhiệm vụ học tập, mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh.

          - Dạy học theo trạm góc là một phương pháp tổ chức dạy học dựa trên hình thức làm việc tại các trạm.

     Sự kết hợp của ba kĩ thuật trên nhằm:

- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề).

- Kích thích sự tham gia tích cực của HS.

- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác.

         Thực chất, cả ba kĩ thuật này đều nằm trong phương pháp thảo luận nhóm. Nhưng với sự kết hợp cả ba kĩ thuật, phương pháp thảo luận nhóm trở nên “ mới” hơn,  “tích cực hơn” và “hiệu quả hơn”.

3.1.2. Cách tiến hành kĩ thuật mảnh ghép kết hợp với kĩ thuật phòng tranh và kĩ thuật trạm góc.

VÒNG 1: Vòng chuyên gia

- Hoạt động theo nhóm 3 đến 8 người

[số nhóm được chia = số chủ đề x n (n = 1, 2,…)]

- Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ

[Ví dụ: nhóm 1: nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, … ( có thể có nhóm cùng nhiệm vụ)]

- Mỗi cá nhân dựa vào sự chuẩn bị bài của mình ở nhà, trao đổi với các thành viên trong nhóm và hoàn thành phiếu học tập 1 theo nội dung tìm hiểu của nhóm mình ở nhà mà giáo viên đã giao ở tiết trước.

- Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2.

Học sinh sẽ treo hoặc dán sản phẩm của nhóm mình lên tường sau khi kết thúc vòng 1.

 

        VÒNG 2:  Vòng mảnh ghép

- Hình thành nhóm 3 đến 6 người mới (1- 2 người từ nhóm 1, 1- 2 người từ nhóm 2, 1- 2 người từ nhóm 3…)

- Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới (mảnh ghép) theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong 1 nhóm mới. Bước này phải tiến hành một cách cẩn thận tránh làm cho học sinh ghép nhầm nhóm.

- Trong điều kiện phòng học hiện nay việc ghép nhóm vòng 2 sẽ gây mất trật tự vì vậy giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách di chuyển để tránh tình trạng mất nhiều thời gian ổn định nhóm mảnh ghép.

- Học sinh đã treo hoặc dán sản phẩm của nhóm mình lên tường sau khi kết thúc vòng 1. Các nhóm lần lượt di chuyển như đi xem triển lãm tranh, lắng nghe sự chia sẻ kiến thức của các thành viên trong nhóm chuyên gia theo từng trạm. Sau khi lắng nghe, các thành viên trong nhóm mới có thể đặt câu hỏi với chuyên gia từng trạm, ghi lại những câu hỏi thêm muốn hỏi phía dưới phiếu học tập. Việc phối hợp ba kĩ thuật này sẽ tránh nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh so với việc chỉ dùng kĩ thuật mảnh ghép.

- Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau ở từng trạm.

- Và để kiểm tra quá trình tiếp nhận kiến thức của học sinh qua hai vòng thì giáo viên cần có một phiếu trắc nghiệm nhanh sau vòng mảnh ghép.

VÒNG 3: Vòng hỏi đáp

Giáo viên dành thời gian để các nhóm chuyên gia giải đáp những câu hỏi thêm ngoài nội dung yêu cầu học tập trong phiếu. Trong quá trình các nhóm chuyên gia giải đáp còn chưa lô-gic, chưa đầy đủ thì giáo viên sẽ trợ giúp các nhóm, giúp các em định hướng câu trả lời.

3.1.3. Áp dụng kĩ thuật mảnh ghép kết hợp với kĩ thuật phòng tranh và kĩ thuật trạm góc vào tình hình cụ thể của nhà trường.

3.1.3a. Cách phân chia nhóm và đánh số thứ tự cho các học sinh trong nhóm.

- Lớp học được chia thành 4 nhóm (tối đa mỗi nhóm 10) hoặc 6 nhóm (tối đa mỗi nhóm 7) tùy theo số vấn đề cần giải quyết.

- Cách đánh số thứ tự cho các học sinh trong nhóm (trường hợp chia 6 nhóm) như sau:

+ Có 6 học sinh mang số thứ tự từ 1 đến 6. Học sinh còn lại trong nhóm sẽ mang số của nhóm đó.

+ Giáo viên cần đặc biệt chú ý vị trí cũng như nhiệm vụ điều hành của các nhóm trưởng chính vì thế số của nhóm trưởng chính là số của nhóm mình thảo luận.

3.1.3b. Cách phân nhiệm vụ khi thảo luận.

          Thông thường một bài học Địa lí thường có 3 đến 4 nhiệm vụ cần thực hiện đồng thời (hoặc cũng có thể là 2 nhiệm vụ nếu đó là nhiệm vụ tương đối khó). Nếu chỉ sử dụng kĩ thuật mảnh ghép thì với thực tế lớp học có 6 nhóm thì  khi đó nhiệm vụ được phân công như sau:

+ Nếu có 2 nhiệm vụ: Khi đó sẽ có 3 nhóm thực hiện nhiệm vụ 1 và 3 nhóm thực nhiện vụ 2.

+ Nếu có 3 nhiệm vụ: Khi đó sẽ có 2 nhóm thực hiện 1 nhiệm vụ.

+ Nếu có 4 nhiệm vụ: Khi đó 2 nhóm còn lại giáo viên chọn nhiệm vụ phù hợp (thường là nhiệm vụ khó hơn hoặc quan trọng hơn) để thảo luận.

Nhưng nếu sử dụng kết hợp giữa kĩ thuật mảnh ghép với kĩ thuật phòng tranh  và kĩ thuật trạm góc thì số nhóm lí tưởng là 4 nhóm với 4 nhiệm vụ. Số lượng thành viên trong mỗi nhóm là 6-8 người. Với những lớp có sĩ số đông, giáo viên cần lựa chọn những bài có nội dung, nhiệm vụ học tập đa dạng hơn để việc phân chia nhóm cũng như việc chia sẻ kiến thức của các thành viên khi dừng ở mỗi trạm sẽ bớt khó khăn.

Như vậy đối với việc sử dụng kết hợp giữa kĩ thuật mảnh ghép với kĩ thuật phòng tranh và kĩ thuật trạm góc, giáo viên cần lưu ý vận dụng một cách linh hoạt tùy theo nội dung của bài học cũng như tình hình cụ thể về số lượng của học sinh trong một lớp.  Đồng thời,  giáo viên cần phải chuẩn bị phiếu giao việc cụ thể cho mỗi nhóm và theo từng vòng để học sinh các nhóm nắm được công việc, tránh chồng chéo và nhầm lẫn các nhiệm vụ.

3.1.3c. Cách tổ chức lớp học.

- Giáo viên cần chuẩn bị sơ đồ lớp theo  nhóm, trong đó cần chỉ rõ cách di chuyển để học sinh không đi lại lộn xộn.

- Dưới đây là 1 ví dụ minh họa cho việc chia nhóm và hướng dẫn di chuyển của học sinh:

- Ví dụ về áp dụng kỹ thuật mảnh ghép kết hợp với kĩ thuật phòng tranh

và kĩ thuật trạm góc trong một số bài giảng Địa lí (phụ lục 1)

 

4. Kết quả nghiên cứu.

* Để đánh giá khả năng, hiệu quả, ý nghĩa của việc Sử dụng kết hợp giữa kĩ thuật mảnh ghép với phòng tranh và trạm góctrong dạy học Địa lí, tôi đã tiến hành thực nghiệm ở một số lớp 6B, 7B, 8B, 9B. Còn với các lớp 6A, 7A, 8A, 9A tôi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm theo cách thức truyền thống ( chia nhóm, học sinh thảo luận và cử đại diện báo cáo kết quả). Qua quá trình thực hiện, tôi nhận thấy học sinh các lớp 6B 7B, 8B, 9B:

-  Các em hào hứng học tập hơn, các em chủ động học tập, phối hợp nhóm khá tốt.

- Khả năng nhớ và vận dụng kiến thức Địa lí, cách lập luận, trình bày vấn đề của các em tốt hơn.

- Điểm trung bình môn cuối học kì ở các lớp thực nghiệm cao hơn đáng kể (từ 5 đến 15%) so với các lớp A.

Để kiểm tra kết quả của việc Sử dụng kết hợp giữa kĩ thuật mảnh ghép với phòng tranh và trạm góc trong dạy học Địa lí, tôi đã tổ chức lấy ý kiến của học sinh các lớp B mà tôi đã thực nghiệm các kĩ thuật này về hứng thú học bộ môn Địa lí. Kết quả cụ thể như sau:

Bảng 1: Bảng khảo sát ý kiến của học sinh 9B, 8B, 7B, 6B  khi thực hiện kĩ thuật mảnh ghép kết hợp với kĩ thuật phòng tranh và kĩ thuật trạm góc:

Lớp

Tổng số

Mức độ

Rất thích

Thích

Không thích

SL

%

SL

%

SL

%

9B

29

14

48

15

52

0

0

8B

35

25

71

10

29

0

0

7B

44

30

68

14

32

0

0

6B

46

30

65

16

35

0

0

 

Bảng 2: Kết quả học tập của học sinh năm học 2018- 2019 và học kì I năm học 2019 - 2020:

Năm học 2018- 2019

Học kì I năm học 2019 - 2020

Khối lớp

Tổng số

% trên trung bình

% dưới trung bình

Khối lớp

Tổng số

% trên trung bình

% dưới trung bình

9A

25

100%

0%

9A

28

100%

0%

9B

22

100%

0%

9B

29

100%

0%

8A

28

95%

5%

8A

34

85,29%

14,71%

8B

29

100%

0%

8B

35

100%

0%

7A

34

90%

10%

7A

44

86,36%

13,64%

7B

35

100%

0%

7B

44

100%

0%

6A

43

90%

10%

6A

45

86,36%

13,64%

6B

44

100%

0%

6B

46

100%

0%

              Như vậy việc sử  dụng  kết hợp kĩ thuật mảnh ghép với kĩ thuật phòng tranh và kĩ thuật trạm góc trong dạy học đã tạo không gian học tập tích cực,  tăng cường sự tham gia cũng như nâng cao hứng thú học tập cho học sinh; góp phần hình thành, phát triển năng lực học tập cho các em.

             Từ kết quả thực nghiệm ở trên, bản thân tôi thấy phương pháp hoạt động nhóm với kĩ thuật mảnh ghép kết hợp kĩ thuật phòng tranh và kĩ thuật trạm góc đem lại tín hiệu rất tốt cho quá trình giảng dạy của bản thân nên tôi thường xuyên vận dụng một cách hiệu quả nhất trong các giờ dạy Địa lí trên tất cả các lớp mà tôi giảng dạy chứ không riêng gì các lớp B và tùy vào nội dung của từng bài học để tôi vận dụng một cách hiệu quả nhất.

 

 

PHẦN C.  KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

 

Các kĩ thuật dạy học tích cực là những kĩ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh.

Việc nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh là mục tiêu của người dạy học nên giáo viên cần phải sáng tạo trong sử dụng các phương tiện, phương pháp kĩ thuật trong dạy học để làm mới phong cách của mình, giúp bài học trở nên hấp dẫn, sinh động tránh sự nhàm chán. Việc áp dụng linh hoạt các phương tiện, phương pháp và kĩ thuật dạy học thể hiện tính sáng tạo, tìm tòi, đầu tư của giáo viên và cũng nhờ vậy sẽ giúp học sinh nắm được bài, có thái độ tích cực, yêu thích đối với bộ môn Địa lí từ đó hình thành và phát triển được năng lực cho các em.

Thật vậy, việc sử dụng một số phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học Địa lí đã giúp các em hào hứng tiếp cận cách thức học tập mới, chuyển theo hướng học tích cực, chủ động, sáng tạo, làm cho các em tự tin, hứng thú, có phương pháp tự học ngày một tốt hơn từ đó hình thành và phát triển năng lực cho các em. Để thực hiện tốt điều này giáo viên cần nâng cao kiến thức (sưu tầm, tìm hiểu) về các phương pháp kĩ thuật dạy học mới và tôi nghĩ vấn đề này cũng cần được bàn bạc, nghiên cứu mở rộng hơn trong những đề tài sau.

        Trong quá trình nghiên cứu đề tài không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.

2. Khuyến nghị:

Để tiến tới việc đổi mới phương pháp dạy học môn Địa lí nói riêng và các môn học trong nhà trường nói chung, cần:

 * Đối với phụ huynh

- Cần quan tâm đến việc học hành của con em mình, đầu tư nhiều về cơ sở vật chất, nhất là các trang thiết bị tin học tạo điều kiện cho con em mình học tập tốt.

- Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội để giáo dục con em mình thông qua học tập môn Địa lí ở nhà trường.

* Đối với Phòng Giáo dục:

- Bồi dưỡng và nâng cao năng lực, phương pháp giảng dạy cho đội ngũ giáo viên để đáp ứng được yêu cầu giáo dục hiện nay.

- Tổ chức và tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng, các lớp hướng dẫn thực hành các kĩ thuật dạy học mới hiện nay cho giáo viên, ...để đem lại hiệu quả tốt hơn trong việc dạy và học bộ môn Địa lí nói riêng và giáo dục nói chung.

* Về phía nhà trường :

         - Cần trang bị thêm các thiết bị, đồ dùng dạy học cần thiết cho môn học như: tranh ảnh minh họa, sơ đồ, lược đồ của bộ môn còn thiếu, máy vi tính và máy chiếu để giáo viên trình chiếu cho học sinh xem các bộ phim tư liệu địa lí.

        - Tổ chức thảo luận các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học cho tất cả các giáo viên trong từng đợt, từng năm để ngày một nâng cao chất lượng dạy học.

        - Luôn luôn quan tâm, động viên kịp thời đối với đội ngũ giáo viên, học sinh trong việc giảng dạy, học tập tạo động lực giúp thầy và trò thi đua dạy tốt, học tốt.

 

Hà nội, ngày 1 tháng 3 năm 2020

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác.

 

 

 

 

 

                    Nguyễn Thị Lan Hương

 

 

 

 

 

 

 

 PHẦN D. TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.   Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

Nhà xuất bản giáo dục

2.   Tài liệu về tâm lý lứa tuổi THCS

Nhà xuất bản giáo dục

3.   Đổi mới phương pháp dạy học

Nhà xuất bản giáo dục

4.  Phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh

Nhà xuất bản giáo dục

5. Tài liệu kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong trường THCS.

 

 

PHỤ LỤC 1

Ví dụ về áp dụng kỹ thuật mảnh ghép kết hợp với kĩ thuật phòng tranh

trong một số bài giảng Địa lí

Địa lí 6

Bài 10: Cấu tạo bên trong của Trái Đất

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

Hoạt động 1: Khởi động

Gv nhắc lại nhiệm vụ đã giao cho từng nhóm chuyên gia ở tiết học trước:

- Nhóm 1: Tìm hiểu về độ dày, trạng thái, nhiệt độ của lớp vỏ Trái Đất. ( Các em có thể vẽ hình minh họa hay sưu tầm tranh ảnh hoặc làm mô hình để thuyết trình cho nội dung tìm hiểu của nhóm mình)

- Nhóm 2: Tìm hiểu về độ dày, trạng thái, nhiệt độ của lớp trung gian.

( Các em có thể vẽ hình minh họa hay sưu tầm tranh ảnh hoặc làm mô hình để thuyết trình cho nội dung tìm hiểu của nhóm mình)

- Nhóm 3: Tìm hiểu về độ dày, trạng thái, nhiệt độ của lớp lõi Trái Đất.

( Các em có thể vẽ hình minh họa hay sưu tầm tranh ảnh hoặc làm mô hình để thuyết trình cho nội dung tìm hiểu của nhóm mình)

- Nhóm 4: Tìm hiểu về cấu tạo của lớp vỏ Trái Đất.

( Các em có thể vẽ hình minh họa hay sưu tầm tranh ảnh hoặc làm mô hình để thuyết trình cho nội dung tìm hiểu của nhóm mình)

GV: Yêu cầu học sinh tìm hiểu cấu tạo bên trong của Trái Đất thông qua 3 vòng: vòng chuyên gia, vòng mảnh ghép, vòng hỏi – đáp.

GV: Nêu nhiệm vụ của từng vòng.

 

 

 

Hs nghe, theo dõi, ghi nhớ nhiệm vụ

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức

Vòng chuyên gia (4 phút)

            Gv yêu cầu các nhóm chuyên gia thảo luận trong thời gian 4 phút, sử dụng những kiến thức đã tìm hiểu trước kết hợp thông tin trong SGK hoàn thành nội dung bảng thảo luận của nhóm mình và treo lên theo vị trí đã định.

 

- Hs hoạt động nhóm theo hướng dẫn của giáo viên

- Hoàn thiện nội dung thống nhất vào bảng nhóm.

 

Vòng mảnh ghép (10 phút)

           Gv tạo mảnh ghép: Gv yêu cầu hs tự gắn màu hoa ưa thích của mình vào áo. Những hs có cùng màu hoa di chuyển về cùng một nhóm theo sơ đồ Gv chiếu trên máy:

Nhóm 1

Hoa xanh

Nhóm 4

Hoa đỏ

Nhóm 2

Hoa tím

Nhóm 3

Hoa vàng

 

Sơ đồ di chuyển:

Trạm 1

Trạm 2

 

Trạm 4

 

Trạm 3

 

 

- Tại mỗi trạm có bảng thảo luận của từng nhóm, bạn nào là chuyên gia của phần đó sẽ giới thiệu cho cả nhóm cùng nghe để hoàn thiện nội dung vào phiếu học tập cá nhân số 1.

- Các nhóm mảnh ghép sẽ di chuyển hết các trạm.

- Các thành viên trong mảnh ghép đặt câu hỏi cho các nhóm chuyên gia.

- Gv yêu cầu hs các nhóm trở lại ví trí và dựa vào kiến thức vừa tìm hiểu được từ các trạm để hoàn thành phiếu học tập cá nhân số 2 trong thời gian 1 phút 30 giây.

- GV chữa, chốt kiến thức

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Hs tạo thành nhóm mảnh ghép, lần lượt di chuyển

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- HS các nhóm chuyên gia lần lượt trình bày kiến thức của mình được nghiên cứu tại mỗi trạm.

- Hoàn thành phiếu học tập số 1

 

  • Trả lời, giải thích, lắng nghe

- Hoàn thành phiếu học tập số 2

Lắng nghe

Vòng hỏi – đáp ( 5 phút)

- Gv: Trong quá trình tìm hiểu các trạm. Các thành viên trong các mảnh ghép đặt ra các câu hỏi cho các nhóm chuyên gia

GV nhận xét, bổ sung, mở rộng

HS hỏi – Nhóm chuyên gia trả lời

 

Lắng nghe

 

Phiếu học tập 2

Chọn câu trả lời đúng nhất cho các câu sau :

    1. Cấu tạo bên trong của Trái Đất gồm mấy lớp ?

a. 1

b. 2

c. 3

d. 4

    1. Độ dày của lớp vỏ Trái Đất là :

a. 5km đến 7km

b. gần 3000km

c. trên 3000km

d. 6370km

    1. Độ dày của lớp trung gian Trái Đất là :

a. 5km đến 7km

b. gần 3000km

c. trên 3000km

d. 6370km

    1. Độ dày của lớp lõi Trái Đất là :

a. 5km đến 7km

b. gần 3000km

c. trên 3000km

d. 6370km

    1. Đâu không phải là trạng thái và nhiệt độ của lớp vỏ Trái Đất ? 

a. Rắn chắc

b. Cao nhất khoảng 50000C

c. Càng xuống sâu, nhiệt độ càng cao.

d. Nhiệt độ tối đa chỉ tới 10000C

    1. Đâu không phải là trạng thái và nhiệt độ của lớp trung gian ? 

a. Từ quánh dẻo đến lỏng

b. Khoảng 15000C đến 47000C

c. Càng xuống sâu, nhiệt độ càng cao.

d. Nhiệt độ tối đa chỉ tới 10000C

    1. Đâu không phải là trạng thái và nhiệt độ của lớp lõi Trái Đất ? 

a. Lỏng ở ngoài, rắn ở trong

b. Cao nhất khoảng 50000C

c. Càng xuống sâu, nhiệt độ càng cao.

d. Nhiệt độ tối đa chỉ tới 10000C

    1. Lớp vỏ Trái Đất chiếm bao nhiêu % thể tích và khối lượng?

a. 25% thể tích và 10% khối lượng.

b. 5% thể tích và 0,5% khối lượng.

c. 15% thể tích và 1% khối lượng.

d. 35% thể tích và 15% khối lượng.

    1. Vỏ Trái Đất được cấu tạo bởi mấy địa mảng chính?

a. 4

b. 5

c. 6

d. 7

    1. Hướng di chuyển của các địa mảng:

a. tách xa nhau hoặc xô vào nhau.

b. chỉ tách xa nhau.

c. chỉ xô vào nhau.

d. từ tây sang đông.

 

Địa lí 7

Bài 41 : Thiên nhiên Trung và Nam Mĩ

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

Hoạt động 1: Khởi động

Gv nhắc lại nhiệm vụ đã giao cho từng nhóm chuyên gia ở tiết học trước:

- Nhóm 1: Tìm hiểu về vị trí địa lí và giới hạn khu vực Trung và Nam Mĩ

- Nhóm 2: Tìm hiểu về vị trí, đặc điểm tự nhiên (địa hình- khí hậu- thảm thực vật)  của eo đất Trung Mĩ và quần đảo Ăng- ti ( sưu tầm tranh ảnh minh họa, khuyến khích làm mô hình)

- Nhóm 3: Tìm hiểu về vị trí, đặc điểm tự nhiên (địa hình- khí hậu- thảm thực vật)  của khu vực Nam Mĩ.

( sưu tầm tranh ảnh minh họa, khuyến khích làm mô hình)

GV: Yêu cầu học sinh tìm hiểu Thiên nhiên Trung và Nam Mĩ thông qua 3 vòng: vòng chuyên gia, vòng mảnh ghép, vòng hỏi – đáp.

GV: Nêu nhiệm vụ của từng vòng.

 

 

 

Hs nghe, theo dõi, ghi nhớ nhiệm vụ

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức

Vòng chuyên gia (4 phút)

            Gv yêu cầu các nhóm chuyên gia thảo luận trong thời gian 5 phút, sử dụng những kiến thức đã tìm hiểu trước kết hợp thông tin trong SGK hoàn thành nội dung bảng thảo luận của nhóm mình và treo lên theo vị trí đã định.

 

- Hs hoạt động nhóm theo hướng dẫn của giáo viên

- Hoàn thiện nội dung thống nhất vào bảng nhóm.

 

Vòng mảnh ghép (10 phút)

           Gv tạo mảnh ghép: Gv yêu cầu hs tự gắn tên đới khí hậu ưa thích của mình vào áo. Những hs thuộc cùng một đới di chuyển về cùng một nhóm theo sơ đồ Gv chiếu trên máy:

Nhóm 1

Đới nóng

Nhóm 2

Đới ôn hòa

Nhóm 3

Đới lạnh

 

Sơ đồ di chuyển:

Trạm 1

 

Trạm 3

 

Trạm 2

 

 

- Tại mỗi trạm có bảng thảo luận của từng nhóm, bạn nào là chuyên gia của phần đó sẽ giới thiệu cho cả nhóm cùng nghe để hoàn thiện nội dung vào phiếu học tập cá nhân số 1.

- Các nhóm mảnh ghép sẽ di chuyển hết các trạm.

- Các thành viên trong mảnh ghép đặt câu hỏi cho các nhóm chuyên gia.

- Gv yêu cầu hs các nhóm trở lại ví trí và dựa vào kiến thức vừa tìm hiểu được từ các trạm để hoàn thành phiếu học tập cá nhân số 2 trong thời gian 2 phút

- GV chữa, chốt kiến thức

 

 

 

 

- Hs tạo thành nhóm mảnh ghép, lần lượt di chuyển.

 

 

 

 

 

- HS các nhóm chuyên gia lần lượt trình bày kiến thức của mình được nghiên cứu tại mỗi trạm.

- Hoàn thành phiếu học tập số 1

 

  • Trả lời, giải thích, lắng nghe

- Hoàn thành phiếu học tập số 2

Lắng nghe

Vòng hỏi – đáp ( 5 phút)

- Gv: Trong quá trình tìm hiểu các trạm. Các thành viên trong các mảnh ghép đặt ra các câu hỏi cho các nhóm chuyên gia

GV nhận xét, bổ sung, mở rộng

HS hỏi – Nhóm chuyên gia trả lời

 

Lắng nghe

Phiếu học tập 2

Chọn câu trả lời đúng nhất cho các câu sau :

  1. Diện tích của khu vực Trung và Nam Mĩ là :

a. khoảng 20,5 triệu km2

b. khoảng 30 triệu km2

c. khoảng 21,5 triệu km2

d. khoảng 42 triệu km2

  1. Eo đất Trung Mĩ là nơi tận cùng của hệ thống núi Cooc-đi-e, có nhiều núi lửa hoạt động.

Nhận định trên:

a. Đúng

b. Sai

  1. Ở các sườn núi hướng về phía đông và các đồng bằng ven vịnh Mê-hi-cô trên eo đất Trung Mĩ mưa nhiều nên có:

a. rừng rậm nhiệt đới bao phủ.

b. rừng thưa.

c. xa-van.

d. cây bụi.

  1. Quần đảo Ăng-ti bao quanh:

a. biển Ca-ri-bê

b. vịnh Mê-hi-cô

c. biển Xac-gat

d. vịnh Hớt-xơn

  1. Phía tây các đảo trong quần đảo Ăng-ti có mưa nhiều nên rừng rậm phát triển còn phía đông mưa ít nên phát triển xa-van và rừng thưa, cây bụi.

Nhận định trên:

a. Đúng

b. Sai

  1. Nam Mĩ có mấy khu vực địa hình chính theo chiều kinh tuyến?

a. 2

b. 3

c. 4

d. 5

  1. Đâu không phải là đặc điểm của dãy núi trẻ An-đét? 
    1. Chạy dọc phía đông của Nam Mĩ.
    2. Cao, đồ sộ nhất chấu Mĩ (TB 3000-5000m).
    3. Giữa các dãy núi có nhiều thung lũng và cao nguyên rộng.
    4. Thiên nhiên thay đổi từ Bắc xuống Nam, từ thấp lên cao.
  2. Ở giữa khu vực Nam Mĩ là các đồng bằng rộng lớn, tính từ Bắc xuống Nam, lần lượt là :
    1. Ô-ri-nô-cô -> A-ma-dôn -> La-pla-ta -> Pam-pa
    2. Ô-ri-nô-cô -> A-ma-dôn -> Pam-pa-> La-pla-ta
    3. A-ma-dôn -> Ô-ri-nô-cô -> La-pla-ta -> Pam-pa
    4. A-ma-dôn -> Ô-ri-nô-cô -> Pam-pa-> La-pla-ta
  3. Đồng bằng A-ma-dôn có đặc điểm là :
    1. hẹp, nhiều đầm lầy.
    2. rộng và bằng phẳng nhất thế giới.
    3. địa hình cao dần về phía dãy An-dét.
    4. là vựa lúa và vùng chăn nuôi lớn của Nam Mĩ
  4. .     Sơn nguyên Guy-an-na và sơn nguyên Bra-xin nằm ở :

a. phía tây Nam Mĩ.

b. phía đông Nam Mĩ.

c. ở giữa Nam Mĩ.

d. phía nam Nam Mĩ.

  1. Đâu không phải đặc điểm của sơn nguyên Bra-xin ?
    1. Được hình thành từ lâu đời và bị bào mòn mạnh.
    2. Được hình thành từ lâu đời nhưng được nâng lên, bề mặt bị cắt xẻ.
    3. Rìa phía đông sơn nguyên có nhiều dãy núi khá cao xen các cao nguyên núi lửa.
    4. Đất tốt, khí hậu nóng và ẩm ướt nên rừng cây phát triển rậm rạp.

 

Địa lí 8

Bài 23: Vị trí, giới hạn, hình dạng lãnh thổ Việt Nam

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

Hoạt động 1: Khởi động

Gv nhắc lại nhiệm vụ đã giao cho từng nhóm chuyên gia ở tiết học trước:

- Nhóm 1: Tìm hiểu về vị trí, giới hạn lãnh thổ vùng đất, vùng biển và vùng trời  ( tọa độ địa lí, múi giờ, diện tích, các đảo xa nhất, giới hạn vùng trời)

( sưu tầm tranh ảnh minh họa về các điểm cực,...v.v.)

- Nhóm 2: Tìm hiểu về đặc điểm của vị trí địa lí Việt Nam về mặt tự nhiên. Những đặc điểm đó có ảnh hưởng như thế nào tới môi trường tự nhiên nước ta? Cho ví dụ.

(Sưu tầm tranh ảnh minh họa, khuyến khích làm mô hình, đoạn phim ngắn)

- Nhóm 3: Tìm hiểu về đặc điểm lãnh thổ phần đất liền. Hình dạng lãnh thổ phần đất liền có ảnh hưởng gì tới các điều kiện tự nhiên và hoạt động giao thông vận tải ở nước ta?

(Sưu tầm tranh ảnh minh họa, khuyến khích làm mô hình, đoạn phim ngắn)

- Nhóm 4: Tìm hiểu về đặc điểm lãnh thổ phần biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam. (đặc điểm; Tên đảo lớn nhất? Thuộc tỉnh nào? Vịnh biển đẹp nhất? Vịnh đó đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào năm nào? Tên quần đảo xa nhất? Thuộc tỉnh, thành phố nào?)

(Sưu tầm tranh ảnh minh họa, khuyến khích làm mô hình, đoạn phim ngắn)

GV: Yêu cầu học sinh tìm hiểu cấu tạo bên trong của Trái Đất thông qua 3 vòng: vòng chuyên gia, vòng mảnh ghép, vòng hỏi – đáp.

GV: Nêu nhiệm vụ của từng vòng.

 

 

 

Hs nghe, theo dõi, ghi nhớ nhiệm vụ

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức

Vòng chuyên gia (4 phút)

            Gv yêu cầu các nhóm chuyên gia thảo luận trong thời gian 4 phút, sử dụng những kiến thức đã tìm hiểu trước kết hợp thông tin trong SGK hoàn thành nội dung bảng thảo luận của nhóm mình và treo lên theo vị trí đã định.

- Hs hoạt động nhóm theo hướng dẫn của giáo viên

- Hoàn thiện nội dung thống nhất vào bảng nhóm.

 

Vòng mảnh ghép (10 phút)

           Gv tạo mảnh ghép: Gv yêu cầu hs tự gắn tên đảo, quần đảo mà mình thích vào áo. Những hs có cùng tên về cùng một nhóm theo sơ đồ Gv chiếu trên máy:

Nhóm 1

Hoàng Sa

Nhóm 4

Bạch Long Vĩ

Nhóm 2

Trường Sa

Nhóm 3

Phú Quốc

 

Sơ đồ di chuyển:

Trạm 1

Trạm 2

 

Trạm 4

 

Trạm 3

 

- Tại mỗi trạm có bảng thảo luận của từng nhóm, bạn nào là chuyên gia của phần đó sẽ giới thiệu cho cả nhóm cùng nghe để hoàn thiện nội dung vào phiếu học tập cá nhân số 1.

 

- Các nhóm mảnh ghép sẽ di chuyển hết các trạm.

- Các thành viên trong mảnh ghép đặt câu hỏi cho các nhóm chuyên gia.

- Gv yêu cầu hs các nhóm trở lại ví trí và dựa vào kiến thức vừa tìm hiểu được từ các trạm để hoàn thành phiếu học tập cá nhân số 2 trong thời gian 2 phút.

- GV chữa, chốt kiến thức

 

 

 

 

- Hs tạo thành nhóm mảnh ghép, lần lượt di chuyển

 

 

 

 

 

- HS các nhóm chuyên gia lần lượt trình bày kiến thức của mình được nghiên cứu tại mỗi trạm.

- Hoàn thành phiếu học tập số 1

 

  • Trả lời, giải thích, lắng nghe

- Hoàn thành phiếu học tập số 2

Lắng nghe

Vòng hỏi – đáp ( 5 phút)

- Gv: Trong quá trình tìm hiểu các trạm. Các thành viên trong các mảnh ghép đặt ra các câu hỏi cho các nhóm chuyên gia

GV nhận xét, bổ sung, mở rộng

HS hỏi – Nhóm chuyên gia trả lời

 

Lắng nghe

Phiếu học tập 2

Bài 1 : Chọn câu trả lời đúng nhất cho các câu sau :

  1. Điểm cực Bắc nước ta ở tọa độ địa lí nào?

a.  23023B, 105020Đ

b.  22022B, 102009Đ

c.  8034B, 104040Đ

d.  12040B, 109024Đ

  1. Địa danh hành chính của điểm cực Đông nước ta là:
    1. xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
    2. xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
    3. xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
    4. xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
  2. Từ bắc vào nam và từ tây sang đông, phần đất liền nước ta kéo dài bao nhiêu kinh, vĩ độ ?

a.  7 vĩ độ, 7 kinh độ

b.  12 vĩ độ, 7 kinh độ

c.  10 vĩ độ, 7 kinh độ

d.  15 vĩ độ, 7 kinh độ

  1. Lãnh thổ đất liền Việt Nam nằm trong múi giờ thứ mấy theo giờ GMT ?

a. 5

b. 6

c. 7

d. 8

  1. Diện tích đất tự nhiên nước ta, bao gồm đất liền và hải đảo là :

a. khoảng 331.212 km2

b. khoảng 339.212 km2

c. khoảng 336.212 km2

d. khoảng 1 triệu km2

  1. Diện tích phần biển nước ta là : 

a. khoảng 331.212 km2

b. khoảng 339.212 km2

c. khoảng 336.212 km2

d. khoảng 1 triệu km2

  1. Vùng trời Việt Nam là khoảng không gian bao trùm lên trên lãnh thổ nước ta ; trên đất liền được xác định bằng các đường biên giới, trên biển là ranh giới bên ngoài của lãnh hải và không gian của các đảo.

Nhận định trên :

a. Đúng.

b. Sai.

  1. Việt Nam có đường bờ biển uốn cong hình chữ S, dài :

a. 1650 km.

b. 3260km.

c. hơn 4600 km.

d. 50 km.

  1. Phần biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía :

a. bắc và đông bắc.

b. đông và đông nam.

c. nam và đông nam.

d. tây nam.

  1. Hai quần đảo xa bờ nhất nước ta là:

a. Hoàng Sa và Trường Sa.

b. Hoàng Sa vàThổ Chu.

c. Thổ Chu và Côn Sơn.

d. Côn Sơn và Trường Sa.

Bài 2 : Điền tiếp vào dấu: « ….. »

Những đặc điểm nổi bật của vị trí địa lí tự nhiên nước ta là :

  1. Vị trí…………………………………………………………………..
  2. Vị trí…………………………………………………………………..
  3. Vị trí…………………………………………………………………..
  4. Vị trí…………………………………………………………………..

 

Địa lí 9

Bài 39: Phát triển tổng hợp kinh tế

và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển-đảo (tiếp theo)

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

Hoạt động 1: Khởi động

Gv nhắc lại nhiệm vụ đã giao cho từng nhóm chuyên gia ở tiết học trước:

- Nhóm 1: Tìm hiểu về ngành khai thác và chế biến khoáng sản biển (tiềm năng, sự phát triển, hạn chế, phương hướng).

(Sưu tầm tranh ảnh minh họa, khuyến khích làm đoạn phim ngắn)

- Nhóm 2: Tìm hiểu về phát triển tổng hợp giao thông vận tải biển. (tiềm năng, sự phát triển, hạn chế, phương hướng).

(Sưu tầm tranh ảnh minh họa, khuyến khích làm đoạn phim ngắn)

- Nhóm 3: Tìm hiểu về sự giảm sút tài nguyên và ô nhiễm môi trường biển-đảo.

(Sưu tầm tranh ảnh minh họa, khuyến khích làm đoạn phim ngắn)

- Nhóm 4: Tìm hiểu về các phương hướng chính để bảo vệ tài nguyên và môi trường biển.

(Sưu tầm tranh ảnh minh họa, khuyến khích làm đoạn phim ngắn)

GV: Yêu cầu học sinh tìm hiểu thông qua 3 vòng: vòng chuyên gia, vòng mảnh ghép, vòng hỏi – đáp.

GV: Nêu nhiệm vụ của từng vòng.

 

 

 

Hs nghe, theo dõi, ghi nhớ nhiệm vụ

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức

Vòng chuyên gia (4 phút)

            Gv yêu cầu các nhóm chuyên gia thảo luận trong thời gian 4 phút, sử dụng những kiến thức đã tìm hiểu trước kết hợp thông tin trong SGK hoàn thành nội dung bảng thảo luận của nhóm mình và treo lên theo vị trí đã định.

 

- Hs hoạt động nhóm theo hướng dẫn của giáo viên

- Hoàn thiện nội dung thống nhất vào bảng nhóm.

 

Vòng mảnh ghép (10 phút)

           Gv tạo mảnh ghép: Gv yêu cầu hs tự gắn màu hoa ưa thích của mình vào áo. Những hs có cùng màu hoa di chuyển về cùng một nhóm theo sơ đồ Gv chiếu trên máy:

Nhóm 1

Hoa xanh

Nhóm 4

Hoa đỏ

Nhóm 2

Hoa tím

Nhóm 3

Hoa vàng

Sơ đồ di chuyển:

Trạm 1

Trạm 2

 

Trạm 4

 

Trạm 3

 

-

 

- Tại mỗi trạm có bảng thảo luận của từng nhóm, bạn nào là chuyên gia của phần đó sẽ giới thiệu cho cả nhóm cùng nghe để hoàn thiện nội dung vào phiếu học tập cá nhân số 1.

- Các nhóm mảnh ghép sẽ di chuyển hết các trạm.

- Các thành viên trong mảnh ghép đặt câu hỏi cho các nhóm chuyên gia.

- Gv yêu cầu hs các nhóm trở lại ví trí và dựa vào kiến thức vừa tìm hiểu được từ các trạm để hoàn thành phiếu học tập cá nhân số 2 trong thời gian 2 phút.

- GV chữa, chốt kiến thức

 

 

 

 

- Hs tạo thành nhóm mảnh ghép, lần lượt di chuyển.

 

 

 

 

 

- HS các nhóm chuyên gia lần lượt trình bày kiến thức của mình được nghiên cứu tại mỗi trạm.

- Hoàn thành phiếu học tập số 1

 

  • Trả lời, giải thích, lắng nghe

- Hoàn thành phiếu học tập số 2

Lắng nghe

Vòng hỏi – đáp ( 5 phút)

- Gv: Trong quá trình tìm hiểu các trạm. Các thành viên trong các mảnh ghép đặt ra các câu hỏi cho các nhóm chuyên gia

GV nhận xét, bổ sung, mở rộng

HS hỏi – Nhóm chuyên gia trả lời

 

Lắng nghe

Phiếu học tập 2

Bài 1 :  Chọn câu trả lời đúng nhất cho các câu sau :

  1. Tiềm năng để phát triển ngành khai thác và chế biến khoáng sản biển ở nước ta là : nguồn muối vô tận, dầu mỏ, khí đốt, ô-xít titan, cát trắng,…

Nhận định trên :

a.  Đúng.

b.  Sai.

  1. Nghề làm muối phát triển mạnh ở ven biển :

a. vịnh Bắc Bộ.

b. Bắc Trung Bộ.

c. Nam Trung Bộ.

d. Nam Bộ.

  1. Hạn chế chính của ngành ngành khai thác và chế biến khoáng sản biển ở nước ta ?

a.  Chủ yếu xuất khẩu dầu thô.

b.  Phát triển chế biến khí công nghệ cao.

c.  Phát triển công nghiệp hóa dầu.

d. Xuất khẩu khí tự nhiên và khí hóa lỏng.

  1. Đâu không phải là tiềm năng để phát triển tổng hợp giao thông vận tải biển ở nước ta ?
    1. Vị trí nằm gần nhiều tuyến đường biển quốc tế quan trọng.
    2. Ven biển có nhiều vũng vịnh nước sâu.
    3. Ven biển có nhiều cửa sông.
    4. Có dòng biển nóng, lạnh đổi chiều theo mùa.
  2. Cảng biển có công suất lớn nhất nước ta hiện nay là :

a. cảng Sài Gòn.

b. cảng Đà Nẵng.

c. cảng Vinh.

d. cảng Quy Nhơn.

  1. Đâu không phải là phương hướng chính để phát triển tổng hợp giao thông vận tải biển ở nước ta ?

a. Xây dựng các cảng biển có công suất nhỏ

b. Phát triển ngành đóng tàu.

c. Hiện đại hóa hệ thống cảng biển.

d. Phát triển dịch vụ hàng hải.

  1.  Đâu không phải là hậu quả do ô nhiễm môi trường biển- đảo gây ra?
  1. Làm suy giảm tài nguyên sinh vật biển.
  2. Ảnh hưởng xấu tới chất lượng các khu du lịch biển.
  3. Gây thiệt hại đối với các vùng nuôi trồng hải sản.
  4. Nước biển dâng.
  1. Trong các nhận định sau, nhận định chưa chính xác là:
  1. ô nhiễm môi trường biển đảo có xu hướng gia tăng.
  2. một số loài hải sản có nguy cơ tuyệt chủng (cá mòi, cá cháy,…v.v)
  3. nhiều loài hải sản đang giảm về mức độ tập trung.

       d. diện tích rừng ngập mặn ở nước ta ngày càng tăng

Bài 2 : Nêu những phương hướng chính để bảo vệ tài nguyên và môi trường biển- đảo của nước ta?

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

Bài 3 : Hành động thiết thực của cá nhân em để bảo vệ môi trường biển-đảo khi em đi du lịch, tham quan, nghỉ mát ?

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………